TIỂU SỬ NI TRƯỞNG DIỆU GIÁC

CỐ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ BẢO NGUYỆT
(1943 – 2011)
Viện chủ chùa Diệu Giác
Ủy viên Từ thiện Ban Đại Diện Phật giáo quận 2, Tp.HCM
Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận 2, Tp.HCM

EM GÁI tâm Nhượng THÁI THỊ LÊ
Tức Cố Ni Trưởng THÍCH NỮ BẢO NGUYỆT
Trụ trì chùa Diệu Giác
(1943 – 2011)

Anh em chúng tôi nếu chỉ kể những người cùng cha mẹ thì Lê là con út trong gia đình. Ba mẹ chúng tôi có hai người con gái tất cả, song chị tôi – chị Trừu – đã qua đời từ lúc còn bé, còn lại Lê trở thành con gái duy nhất.
Cô tên là Thái Thị Lê, pháp danh Tâm Nhượng, hiệu Bảo Nguyệt, sanh ngày 11 tháng 02 năm Quý Mùi (1943).

Lúc Cô vừa lên một tuổi thì Ba chúng tôi qua đời. Cũng như chúng tôi, Cô lớn lên với nhiều nỗi bất hạnh: chiến tranh và nghèo khó. Ngày còn bé Cô đã sớm biết hôm sớm tão tần. Cô từng theo chân mẹ từ ngôi chợ trong làng đến những ngôi chợ ngoài quận hạt, chẳng nơi nào Cô không đặt chân đến. Và từ những bó rau, cái chổi đến rổ bánh, thúng khoai không thứ nào Cô không kiếm ra tiền lời.

Tôi nhớ có lần Cô buôn bán bánh ướt , loại bánh làm bằng bột gạo, nhân tôm và hình dáng như bánh tráng nhưng không phơi khô – có nơi người ta gọi là bánh cuốn. Loại bánh này thường thường sau khi làm xong người ta sắp thành từng chồng trong một khuôn tròn bằng lá chuối, mỗi khi khách hàng mua mới cho lên một lớp nhân rồi cuốn lại và lấy ra từng cái một. Bánh ướt này chấm nước mắm tỏi ăn thì tuyệt. Song muốn ngon hơn, ngoài nhân tôm người ta còn cho thêm thịt heo luộc thái mỏng trước khi cuốn lại. Ngày ngày Cô đi lấy bánh tại một lò bánh cách nhà chúng tôi khoảng gần hai cây số đường. Lấy về chiều nay thì sáng hôm sau đem ra chợ bán. Cô thường theo Mẹ đi bán tại chợ Linh An thuộc huyện Gio Linh. Từ quê tôi đi chợ Linh An cũng gần chục cây số đường. Những lần bánh bán ở chợ không hết đem về, Cô lại đi bán quanh những nhàhàng xóm. Hồi đó tôi đang học ở vùng Việt Minh và những lần về thăm nhà thế nào Mẹ và Cô cũng đải cho tôi một chầu thoả thích.

Như đã nói, sanh ra và lớn lên trong nhiều nỗi bất hạnh, Cô đã không được đến trường liên tục. Lúc Cô vừa đến tuổi cắp sách đến trường cũng chính là lúc chiến tranh lan rộng. Sau những ngày ngắn ngủi tản cư rồi hồi cư, ngôi trường độc nhất trong quận hạt mở cửa chưa được bao lâu lại phải đóng cửa. Vì vậy ngay những ngày đầu đến trường Cô đã bị dở dang việc học.

Năm1954, sau ngày hoà bình được lập lại trên đất nước, Cô mới lại tiếp tục đến trường.

Để có thêm điều kiện ăn học, đỡ đần cho mẹ trong lúc khó khăn, những năm cuối cấp tiểu học, Cô còn làm gia sư, dạy kèm cho con em những người bà con trong làng. Cuối năm học 1958, Cô học xong chương trình và lấy bằng Tiểu Học.

Cũng năm nầy, được sự khuyến khích của anh thứ chúng tôi và được sự chấp thuận của Mẹ chúng tôi, Cô chính thức xuất gia đầu Phật vào mùa thu năm Mậu Tuất (1958) lúc Cô vừa tròn 16 tuổi và thọ giáo với Sư Bà Thích Nữ Diệu Không chùa Hồng Ân Huế. Cô quy y năm giới với Hoà Thượng Thích Đôn Hậu chùa Linh Mụ Huế năm 1950 cùng với chúng tôi.

Những ngày đầu bước chân vào cữa Phật, Cô ở tu tại chùa Hồng Ân Huế. Đây chính là nơi mà Cô đã sống qua bao nhiêu thử thách, từ nội ma đến ngoại chướng, lúc nào cũng như chực chơ, sẵn sàng xô ngã bước chân đi lên của Cô. Ngày ngày ngoài hai buổi công phu khuya sớm, Cô còn làm bất cứ việc gì mà một người đang trong thời gian hành điệu phải trải qua. Từ việc kiếm củi, hái rau, nấu ăn đến cuốc đất làm cỏkhông có việc làm nào mà không có bàn tay của Cô.

Nhưng rồi những gì rồi cũng qua đi và những khổ nhọc ban đầu cũng không còn nữa. Sau ba năm hành điệu, Cô đã được chính thức thọ Sa di ni giới tại giới đàn chùa Diệu Đức vào ngày 19.06.Tân Sửu (1961) do Hoà Thượng Ni Diệu Hương làm đàn đầu Hoà Thượng, mở đầu cho một giai đoạn mới trên bước đường tu học.

Thọ giới xong, Sư bà cho Cô theo học lớp y tá tại bệnh xá Từ Đàm và khoá học kéo dài một năm. Mãn khoá học, Cô trở về làm việc tại bệnh xá chùa Hồng Ân cho đến ngày Cô lên đường vào Sài Gòn học thêm văn hoá.

Cuối năm học 1965 – 1966 Cô thi đậu bằng Trung Học Đệ nhất cấp – chương trình Pháp Việt – và tiếp tục theo học hết chương trình lớp Đệ Tam ( lớp 10 bây giờ) thì nghỉ và trở về Huế.

Sở dĩ Cô phải bỏ ngang việc học vì Cô không thể yên tâm kéo dài thời gian ngồi trên ghế nhà trường trong lúc chiến tranh ngày một lan rộng và quyết liệt. Năm 1968, sau cuộc tổng công kích tết Mậu Thân, trước cảnh chết chóc điêu linh của dân lành vô tội, Cô nhận thấy sự sống nay chết mai mà con người khó có thể biết trước và tránh thoát được nên Cô muốn trở về Huế tu học để được gần thầy và đại chúng cũng như được sống gần Mẹ già trong lúc tuổi đã chiều tà xế bóng.

Trở về Huế mấy tháng thì Cô được Bổn Sư cho thọ giới pháp Tỳ Kheo Ni tại giới đàn Phước Huệ ( Hải Đức – Nha Trang ) ngày 19.06. Mậu Thân (14.07.1968) do Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết làm đường đầu Hoà Thượng.

Trước đó Cô thọ giới Thức Xoa Ma Na tại giới đàn Vạn Hanh chùa Từ Hiếu được tổ chức vào ngày 19.06.năm Ất Tỵ (1965) do Hoà Thượng Thích Giác Nhiên làm đường đầu Hoà Thượng.

Thọ giới xong, ý thức được trách nhiệm của một sứ giả Như Lai, không thể ẩn mình trong tu viện để mưu cầu lợi ích cho riêng mình trong lúc Giáo Hội cần những bàn tay gầy dựng và bồi đắp, Cô đã vâng lời Sư Bà về làm Hiệu Trưởng trường mẫu giáo Lâm Tỳ Ny chùa Diệu Đế Huế.

Đầu năm 1970, sau thời gian phục vụ cho trường, Cô được Sư Bà cho theo học khoá đào tạo Tăng tài – Trung Đẳng Phật Học – tại Ni Học Viện Diệu Đức Huế. Khoá học dự trù kéo dài với thời gian 3 năm, nhưng mới học đến tháng 3 năm 1972 ( Nhâm Tý), ví ảnh hưởng bởi chiến tranh nên lớp học đã phải ngưng hoạt động.

Nghỉ học, Cô xin phép theo gia đình vào Đà Nẳng để giúp đỡ gia đình trong lúc tản cư chạy loạn. Sau khi gia đình đã tạm sống yên ổn, Cô vào Sài Gòn an cư và được Sư Bà giao trọng trách Trụ Trì chùa Diệu Giác và làm Giám đốc cơ sở từ thiện tại đây.

Viết năm 1973
Tâm Thường

Chùa Diệu Giác lúc bấy giờ, vốn chỉ là một vài dãy nhà lợp tôn rất đơn sơ, nằm giữa ruộng đồng vắng vẻ. Nhưng nhờ công đức của Ni Trưởng miệt mài tôn tạo, mà giờ đây đã trở thành một ngôi phạm vũ trang nghiêm; chùa trước viện sau, quy mô đồ sộ, xứng đáng là một ngôi già lam danh tiếng trong vùng. Công tác trùng tu tôn tạo lớn nhất là vào năm 1996.

Năm 1989, Ni trưởng xin phép thành lập nhà Nuôi Dạy Trẻ Mồ Côi Diệu Giác và được Thành hội Phật giáo Tp.HCM cùng Ủy ban Nhân dân quận 2 cho phép và chính thức cử Ni trưởng đảm nhận chức vụ Phó Chủ nhiệm cơ sở này và Thượng Tọa Chánh Đại Diện Phật Giáo quận 2 làm chủ nhiệm.

Năm 2005, Ni Trưởng phát nguyện chú tạo Đại hồng chung nặng 1 tấn và xây dựng tháp chuông để tôn trí tại chùa Diệu Giác.

Từ 1997 đến nay, Ni Trưởng đảm nhận chức vụ Ủy viên Từ thiện Ban Đại Diện Phật giáo quận 2, và được mời làm Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh.

Ni trưởng được Giáo hội tấn phong Giáo phẩm Ni sư vào năm 1998 và Giáo phẩm Ni trưởng vào năm 2010.

Suốt cuộc đời tu học và hành đạo, Ni trưởng đã luôn luôn giữ gìn giềng mối kỷ cương của Giới Luật, Y chỉ và nương theo hạnh nguyện của các bậc Tổ đức để lập hạnh cho mình, chăm lo hàng hậu học một cách chu đáo, tạo được uy tín lớn với đạo với đời.

Từ năm 1972 đến lúc viên tịch, Ni trưởng đã độ cho nữ giới xuất gia trên 30 vị, trong đó có 25 vị Tỳ-kheo Ni, một số vị này hiện đang phục vụ trong các cơ sở của Giáo hội và các hội Từ thiện, cũng như đang hành đạo và tham phương tại một số nơi khắp trong và ngoài nước; cùng với hàng nghìn Phật tử hữu duyên đã được Ni trưởng truyền giới, quy y.

Năm 1980, Ni Trưởng xây dựng Đạo Tràng Phật Tử tu học tại chùa Diệu Giác và thành lập Gia Đình Phật Tử Đức Tâm.

Dấu ấn để lại đậm nét nhất là các lớp học tình thương, nhà nuôi dạy trẻ mồ côi trong khuôn viên chùa Diệu Giác. Nhờ sự bảo bọc của chùa, của Ni trưởng mà các em đã được nuôi dưỡng, lớn lên và bước vào đời để phục vụ cho xã hội một cách tốt đẹp. Đó là một đại hạnh mà Ni trưởng để lại cho đời, cho hậu thế làm gương.

Cuộc đời của Ni trưởng học và hành song đôi, nói và làm không bao giờ sai lệch; thường thường nói ít, làm nhiều. Đối với các Bậc Tôn đức và Chư tăng, Ni trưởng luôn luôn khiêm hạ, giữ đúng Bát Kỉnh pháp theo hạnh của Bổn Sư, nên rất được mọi người kính quý.

Hằng năm, cứ vào mỗi mùa an cư, vì cảm mến công đức tu hành của chư Tăng Ni, nên Ni trưởng hướng dẫn các Phật tử phát tâm đi cúng dường các tự viện tại một số nơi như Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai và những vùng Cao nguyên hẻo lánh, cho đến tận miền Tây Nam bộ.

Ngoài ra, nhờ uy tín về giới hạnh sáng ngời, khả năng Phật học rất căn bản, nên thỉnh thoảng Ni trưởng còn đựơc mời tham dự trong ban Kiến đàn, hoặc làm thành viên ban Giám khảo tại các giới đàn được toå chức cho Ni giới tại tổ đình Từ Nghiêm và các trú xứ khác. Nhưng với bản chất hiền hậu khiêm cung và luôn muốn được an tịnh ẩn tu, nên Ni trưởng chỉ thể hiện một cách hữu hạn và rất dè dặt khi được cử nhận những chức vụ nầy hay chức vụ nọ.
Với lòng từ bi và hạnh nguyện gần gũi, thương tưởng đến những người gặp hoàn cảnh khó khăn, ngoài việc nuôi dạy trẻ mồ côi, Ni trưởng còn luôn đích thân cùng Ni sư Huệ Trí và ni chúng chùa Diệu Giác tổ chức nhiều cuộc cứu trợ tại các tỉnh có thiên tai bão lụt trên khắp mọi miền đất nước.

Ni trưởng cũng thường quan tâm và giúp đỡ những người già yếu bệnh tật, neo đơn không nơi nương tựa, được có nơi ăn chốn ở, được khám chữa bệnh chu đáo và những gia đình có người thân qua đời gặp hoàn cảnh khó khăn được có điều kiện khâm liệm tử tế.

Tất cả những việc làm ấy đều xuất phát tự tấm lòng của một vị sứ giả Như Lai suốt đời tận tụy với hạnh nguyện cứu khổ, ban vui không từ lao nhọc…

Trong vài năm trở lại đây, do ảnh hưởng sự biến đổi khí hậu toàn cầu và nạn nước biển dâng, chùa Diệu Giác thường bị ngập nước lầy lội trong những mùa mưa. Ni Trưởng có tâm nguyện sẽ nâng cấp trùng tu chùa Diệu Giác, để cho Ni chúng và Phật tử ổn định tu học. Mọi kế hoạch và dự tính đang được thực hiện đúng theo ý nguyện của Ni Trưởng, thì than ôi, giờ đây:

Chùa xưa chừ vắng vẻ
Đệ tử luống bơ vơ
Lòng người thương tiếc sững sờ
Thầy đi là hết… trăng mờ, sao băng!

Nhìn lại cuộc đời của Ni Trưởng:

Tuổi đồng chơn đã cắt ái từ thân, xuất gia học đạo
Tuổi ngoài đôi mươi thì nhân duyên hội đủ, Cụ túc đăng đàn
Đất phương Nam, y bát hóa duyên
Sông Sài Gòn, dựng pháp tràng Diệu Giác

 Từ đó,

Thập phương tụ hội,
Đạo tục triêm ân
Người hữu duyên giáo hóa bao lần
Kẻ bất hạnh mấy phen thùy thủ

Những tưởng, Ni trưởng còn tại thế lâu dài để gánh vác trọng trách với Đạo pháp và làm nơi nương tựa cho hàng Phật tử hữu duyên.

Nhưng than ôi ! Cuộc đời vô thường, không ai đoán định trước được một việc gì, Ni trưởng đã đột ngột ra đi vĩnh viễn mà không nói một lời từ biệt nào với hàng đệ tử, ngay cả những đệ tử cận kề, để bao tiếc thương cho những người ở lại.

Vẫn biết rằng: Đức Phật ra đời còn có ngày Niết bàn tịch diệt, sinh- già- bệnh- chết, thành- trụ-hoại- không là quy luật muôn thuở của các pháp hữu vi. Thế nhưng, làm sao chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động, khi nhớ lại cuộc đời của Ni Trưởng, suốt bao năm miệt mài cần mẫn, đem hết tấc lòng son mà phụng sự cho đạo cho đời, với Bồ Đề tâm không bao giờ lay chuyển. Đối với những bậc Ni Sư và các vị huynh đệ pháp lữ trong tông môn thì nghĩa tình trước sau trọn vẹn; đối nhân xử thế thì tế nhị khiêm cung, đối với đồ chúng thì một mực chăm lo, yêu thương lượng thứ.

Ôi thôi!Hương xưa nay vẫn mãi còn
Nguyện xưa nay vẫn vuông tròn nguyên sơ
Ngày xưa tằm đã nhả tơ
Nay tằm hóa kiếp thành tờ kinh thiêng.

Ni trưởng đã thanh thản xả bỏ báo thân vào lúc 3h 45 phút ngày 18 tháng Giêng năm Tân Mão, nhằm ngày 20 tháng 02 năm 2011, thọ thế 69 năm và 43 hạ lạp.

Thế là: Lá theo mùa lá rụng
Người duyên hết người đi
Buồn vui chừ bỏ lại
Rạng rỡ bước vô vi

Nam mô Tân Viên tịch, Từ Lâm tế Tứ thập tam thế, Liễu quán Pháp phái, Tây Thiên môn hạ, Diệu Giác Ni tự Viện chủ, Húy thượng Tâm hạ Nhượng tự Bảo Nguyệt Ni trưởng Giác linh thùy từ chứng giám.  

Những ngày tang lễ, 18 – 24.01.Tân Mão (20 – 26.02.2011)