CỮA THIỀN DẬY SÓNG

Chùa sư nữ Diệu Giác toạ lạc tại số 177 Trần Não, phường Bình An, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ cũ là 6/10 Trần Trọng Kim, phường An Khánh thuộc quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.

Trở về quá khứ, vào đầu thập niên 70 thế kỷ trước, được sự uỷ quyền của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không chùa Hồng Ân, Thừa Thiên Huế, cố Ni Trưởng Thích Nữ Bảo Nguyệt đã về đây đãm nhiệm chức vụ trụ trì  chùa kiêm Giám đốc Ký Nhi Viện Diệu Giác.

Là người bạn thân cận khi còn hành điệu tại chùa Hồng Ân, nên cố Ni Trưởng đã xin Sư Bà cho Huệ Trí đi theo ngõ hầu có người giúp sức xây dựng nơi trú xứ mới.

Qua những năm tháng dài sát cánh kề vai bên nhau chung sống dĩ nhiên những buồn vui, thuận nghịch đều có cả. Một bên cố Ni Trưởng thì thật thà chất phác, diềm đạm, nhẫn nhịn; một bên Huệ Trí là người hiếu động, thích vùng vẫy, bay nhảy. Cho nên chiều theo bản tính và khả năng sẵn có, cố Ni Trưởng đã bố trí cho Huệ Trí đãm trách những công việc liên quan đến bên ngoài. Vì vậy sau này những lúc chùa có khó khăn về kinh tề, HuệTrí lại lên đường làm nhiệm vụ. Trong chùa có được đồng nào cố Ni Trưởng đều dóc cho Huệ Trí để gọi là “đi buôn”. Thế nhưng với tính phóng xã của cô ta nên những lần “đi buôn”, đi thì có mà về thì không, nghĩa là khi đi thì mang theo tiền vốn liếng mà khi về thì chỉ mang cái mạng không về chùa. Tuy nhiên, không nản chí, Huệ Trí vẫn năn nỉ cố Ni Trưởng tiếp tục cung cấp tiền bạc để ra đi vì hình như ngựa đã quen đường cũ.  Biết việc làm nầy là lợi bất cập hại nhưng cố Ni Trưởng đành ngậm bồ hòn làm ngọt, không thể can ngăn bước chân của Huệ Trí.

Từ những bất đồng nhỏ rồi nẩy sinh ra chuyện lớn, vào 1977, 1978 gì đó nhân có Trí Hạnh một tay làm kinh tế dưới nhản hiệu tu hành lai vảng đến chùa và cuốn hút được Huệ Trí đi theo. Thế là bất chấp việc chị em gắn bó lâu nay, Huệ Trí khăn gói lên đường theo Trí Hạnh. Đúng là ngưu tìm ngưu mã tìm mã. Có một điều là đã ra đi nhưng Huệ Trí lại không đi hẳn mà cứ đi đi về về làm khó xử đối với những người đồng tu. Và rồi một thời gian ngắn, thấy bộ khó ăn, khó chơi, khó qua mặt được Trí Hạnh, một cao thủ trên trường đời, không khéo chịu đựng nhẫn nhục như cố Ni Trưởng nên Huệ Trí lại khăn gói trở về chùa núp bóng ân sư. Lúc nầy thì chưa có đám Hạnh Châu đâu, vì đến trung tuần tháng 2 năm 1982 đám nầy mới nhập chùa. Nhưng việc nầy quý vị cứ hỏi các Sư cô Tịnh Niệm, Tịnh Huệ, Tịnh Nhẫn v.v… từng ở chùa Diệu Giác thì rõ.

Sự sinh hoạt trong chùa đối với các điệu nhiều lúc có một vài điệu cũng khó dạy nhưng đó là chuyện bình thường. Có những điệu được giáo dục nhiều lần nhưng không có tiến bộ, vì vậy cố Ni Trưởng đành phải bấm bụng tấn xuất khỏi chúng. Hoặc những người đến xin tu nhưng vì nhận thấy chùa không có đủ khả năng nuôi nên cố Ni Trưởng từ chối nhận. Những lần như thế Huệ Trí lại ra tay nghĩa hiệp, năn nỉ ỉ ôi để xin cố Ni Trưởng cho ở lại và nhận vào chùa. Đây là dịp để những điệu nầy hàm ơn Huệ Trí sau nầy.

Suốt mấy chục năm trường theo cố Ni Trưởng, Huệ Trí chỉ chuyên tâm lo chuyện tiền bạc nên việc học kinh niệm Phật bị chểnh mãng. Không bao giờ tụng kinh với chúng, không biết nghi lễ, không biết nói pháp – có học đâu mà nói – Có lẽ vì thế những năm sau nầy một phần nhờ kinh doanh nhà trẽ, một phần bòn rút từ cố Ni Trưởng nên đã có đủ điều kiện lo cho anh em con cháu đi dịnh cư tại Mỹ và mua nhà mua xe mua đất khắp vùng Sài Gòn và Biên Hoà xuống tận Dầu Giây, Đồng Nai.

Đến đầu năm 2011 (Tân Mảo), khi cố Ni Trưởng viên tịch chùa lại tiếp tục có những diễn biến đáng buồn còn hơn khi cố Ni Trưởng còn tại thế. Sống đã không yên mà chết rồi cũng không yên nỗi với Huệ Trí. Đúng là oan gia nghiệp báo giữa cố Ni Trưởng và Huệ Trí làm liên luỵ đến gia đình chúng tôi. Thế mà có kẻ “miệng nam mô trong lòng chứa cả bồ dao găm” lại ngoa ngôn nghịch tiếng từ trong chùa Diệu Giác cho rằng cậu Phôi là người tại gia không liên quan gì đến việc chùa Diệu Giác.

Bộ những kẻ nói như thế không cha không mẹ không gia đình, từ dưới đất đục lên rồi vô chùa tu chắc? Không có Phật Tử tại gia thì ai nuôi các người, tiền bạc đâu các người xây chùa to Phật lớn ăn ở suốt đời trong chùa?

Những việc Huệ Trí làm có liên luỵ đến gia đình chúng tôi nên bắt buộc chúng tôi phải lên tiếng. Ngoài ra, việc chùa từ xưa đến nay kể cả khi cố Ni Trưởng còn tại thế có bao giờ tôi đụng chạm đến đâu? Chỉ từ khi cố Ni Trưởng viên tịch và những việc làm động trời của Huệ Trí có liên quan đến gia đình chúng tôi, buộc lòng tôi mới phải lên tiếng.

1.- Sự cố đầu tiên là khi cố Ni Trưởng vừa nằm xuống ngày 18.01.Tân Mảo (20.02.12) thì chỉ ba ngày sau , ngày 21.01.Tân Mảo ( 23.02.12), trong lúc tang gia đang bối rối Huệ Trí đã gọi chúng lên phòng của cố Ni Trưởng để mở phòng kiểm kê tài sản. Trước đó phòng của cố Ni Trưởng đã được niêm phong. Việc kiểm kê có sự chứng minh của Sư Bà Bảo Hoa là em con chú của cố Ni Trưởng, đã 80 tuổi nhớ trước quên sau, mắt mũi không thấy đường thì chứng minh cái nỗi gì. Thứ hai là khi kiểm kê có sự hiện diện của Sư Cô Hạnh Phước là cháu gọi bằng cô ruột của cố Ni Trưởng thì tâm thần bấn loạn vì cô ruột mất, tâm trí đâu để quan tâm đến việc kiểm kê? Tại sao Huệ Trí lại đi làm một việc gấp gáp như thế? Thật là khó hiểu. Có cần thiết để làm như thế không nếu không có ý đồ gì đen tối ? Sao không để cho đến khi đám tang xong xuôi đâu vào đấy, chùa đã trở lại yên tĩnh đã rồi kiểm kê? Lại nữa, trong đám tang có sự hiện diện của tôi, là anh ruột của cố Ni Trưởng, là người thừa kế hợp pháp theo luật pháp hiện hành, sao Huệ Trí không mời tôi chứng kiến việc nầy. Ngoài ra, đối với hàng xuất gia còn có HT. Thiến Tấn, TT. Viên Giác, Minh Hiền, Quảng Thiện, Viên Thành, Sư cô Hạnh Hà, Hạnh Diệu là ruột thị  nhưng tất cả cũng đều đứng vòng ngoài không biết ất giáp gì cả. Việc kiểm kê diễn ra hai lần, một lần vào ngày 21.01.Tân Mảo (23.02.12), một lần vào ngày 24.01.Tân Mảo (26.02.12). Cả hai lần đều không thông báo cho tôi và những vị trên tham dự. Đây là một hành động đầy ngạo mạn của Huệ Trí, xem thường anh em chúng tôi.

2.- Tiếp theo là việc xây tháp cho cố Ni Trưởng. Thông thường làm mộ, tháp thì thân người và đầu nằm về hướng nào thì cữa mộ hay tháp trổ theo hướng đó. Đó là quy luật bất thành văn từ ngàn xưa đến nay ở khắp năm châu bốn bể chứ không riêng gì ở Việt Nam. Thế mà Huệ Trí đã bất chấp tất cả, lại đi xây tháp cho cố Ni Trưởng, thân hình nằm một đường cữa tháp nằm một ngã không ai để ý đến. Ngày chung thất của cố Ni Trưởng tôi khám phá ra sự sai trật nầy và đã đề nghị cô ta sửa lại cho đúng. Thế nhưng Huệ Trí vẫn ngoan cố, tránh né không gặp tôi rồi đi kêu cứu mấy vị Hoà Thượng về chùa họp giải quyết. Những tưởng mấy vị Hoà Thượng đạo cao dức trọng, trí tuệ siêu quần thấy được cái sai trái của Huệ Trí để chỉ dạy sửa chữa, đằng này quý vị lại về hùa với cái sai  của Huệ Trí , đồng loả an ủi tôi làm theo cái sai ấy. Nhưng tôi không đồng ý. Tôi phát biểu: “ dù quý vị có đồng ý theo cô Trí để làm, nhưng riêng tôi, tôi không đồng ý và không chấp nhận việc làm sai trái của cô Trí”. Sau đó tôi đã có viết một bài nêu rõ quan điểm của tôi về vấn đề nầy mà trong cuộc họp tôi không thể trình bày được và gởi đến quý vị đã dự họp ngày hôm đó.

3.- Cuối cùng – không biết có phải cuối cùng không – là vào ngày 26.08.12 nhằm ngày 10.07.Nhâm Thìn vừa qua, Huệ Trí triệu tập đại diện Ni chúng và Đạo Tràng Phật Tử họp và công bố cô ta lên làm trụ trì thay thế Sư Cô Hạnh Nghiêm với những lý do hết sức vớ vẩn. Việc làm nầy đã gây sự xúc động và bàng hoàng cho Ni chúng cũng như đạo tràng Phật Tử. . Trong cuộc họp nầy Huệ Trí còn lớn tiếng phản bội và xúc phạm đến danh dự của cố Ni Trưởng và gia đình nữa. Do đó, sau khi nghe Huệ Trí phát biểu họ đã lên tiếng phản đối quyết liệt và dữ dội ngay trong cuộc họp. Tại sao Huệ Trí đi làm việc nầy trong những ngày đang là mùa an cư kiết hạ của chư Tăng Ni, hơn nữa là đang trong thời gian cư tang cố Ni Trưởng? Có lẽ quả báo đã đến với Huệ Trí do những việc làm sai trái của cô ta trong quá khứ chăng và hiện tại nữa mới xui khiến ra như vậy. Bởi vì khi Huệ Trí trình bày xong là bị Ni chúng mà điển hình là Sư cô Hạnh Bảo và Phật Tử phản ứng quyết liệt. Và không những trong ngày ấy mà mãi cho đến nay đã một tháng, dư luận vẫn không ngớt chê trách việc làm sai trái của Huệ Trí. Ngày 19.09.12 vừa qua, đạo tràng Phật Tử đến chùa tụng kinh và nghe dĩa của Hạnh Châu nói xấu thầy minh đã bị những kẻ xấu trong chùa theo Huệ Trí đuổi. Nhân dịp nầy có Phật Tử đã lớn tiếng hỏi: các Phật Tử có đồng ý để Huệ Trí làm trụ trì không? Toàn thể đạo tràng đều nhất loạt trả lời ba lần không ! không ! không!

Sư cô Hạnh Nghiêm là người được cố Ni Trưởng di ngôn kế thế trụ trì từ khi Người còn tại thế. Việc nầy cố Ni Trưởng đã chuẩn bị trong một thời gian dài mà Ni chúng và đạo tràng Phật Tử ai cũng biết và công nhận.

Thiết nghĩ việc Huệ Trí soán đoạt chức vị trụ trì không phải đột nhiên xẩy ra trong một ngày hai bữa đâu mà mưu mô nầy đã được nuôi dưởng từ lâu, mặc dù khi sinh thời cố Ni Trưởng cũng có lần đưa ra thăm dò ý kiến với Huệ Trí về việc giao cho cô ta đãm trách, nhưng cô ta đã từ chối. Sau ngày cố Ni Trưởng viên tịch khi tiếp xúc với quý vị tôn túc Hoà Thượng, quý vị ấy cũng gợi ý về vấn đề nầy với Huệ Trí nhưng Huệ Trí cũng từ chối bằng những lời lẽ hết sức đạo đức và lễ nghĩa.

Thế nhưng con ma tham, tham danh, tham lợi trong con người của Huệ Trí đã bất ngờ sống dậy một cách mãnh liệt hơn bao giờ hết nên đã quên đi đạo nghĩa bạn bè, thầy trò để làm một việc mà ai nghe đến cũng chê cười, ngoại trừ những kẻ đồng sàng đồng mộng. Ôi! Thật là:

“Bây giờ đạo nghĩa chẳng còn đâu

Tiền bạc lợi danh đứng hạng đầu

Chớ có tin càn nơi chiếc áo

Lầm to ân hận mải về sau”.

Theo nguồn tin đáng tin cậy thì, trước khi tiến hành cuộc họp nói trên, Huệ  Trí đã ra Huế, trước hết là tiếp xúc và vận động với những kẻ đồng sàng đồng mộng. Sau đó tiến thêm một bước nữa là nhờ những kẻ nầy cùng với Huệ Trí đến năn nỉ, tỉ tê với Sư Cụ chùa Hông Ân để nặn ra cái gọi là “thư của Sư cụ tổ đình chùa Hồng Ân” làm bùa hộ mệnh đem vào chùa Diệu Giác cùng với hai người đồng sàng đồng mộng như đã nói trên để làm áp lực buộc Sư Cô Hạnh Nghiêm giao chức vị trụ trì.

Việc làm nầy một lần nữa cho thấy rằng Huệ Trí đã coi thường và khinh rẻ các vị tôn túc trong tông môn pháp phái cũng như anh em chúng tôi. Huệ Trí có biết tông môn pháp phái là ai không? Hay là Huệ Trí chỉ biết tông môn pháp phái của cô ta là chùa Hồng Ân thôi? Có nói gì đi nữa, anh em chúng tôi từ xuất gia đến tại gia là anh em ruột thịt của cố Ni Trưởng, có người đáng là bậc anh bậc chị đối với Huệ Trí. Thế mà cô ta khinh rẻ tất cả, xem trên đời nầy như không có ai, muốn làm gì thì làm. Đấy là hành động không phải ngạo mạn, vô lễ, vô phép thì là gì?

Hiện tại trong chùa đang xẩy ra tình trạng mất đoàn kết giữa Ni chúng với Ni chúng. giữa Ni chúng với đạo tràng, giữa đạo tràng với nhau, giữa Ban Huynh Trưởng với nhau. Trong chùa những phần tử xấu mặc áo nhà tu đội lốt tu hành nhưng làm việc ma, họ đang theo dõi sát sao và chèn ép Sư cô Hạnh Nghiêm, Sư Cô Hạnh Phước, Hạnh Nhẫn, Hạnh Hải, Hạnh Nguyện, Hạnh Hà, Hạnh Diệu và những sư cô khác không đồng quan điểm với Huệ Trí và những phần tử đồng loả với cô ta.  Ai gây nên thảm cảnh nầy nếu không phải là Huệ Tri?

Tất cả những sự kiện trên đều có liên quan đến uy tín, danh dự của cố Ni Trưởng và chùa Diệu Giác cũng như gia đình chúng tôi. Do đó với tư cách là người anh, quyền huynh thế phụ, chúng tôi phải có trách nhiệm lên tiếng.Thế mà có kẻ ngậm máu phun người, ăn cơm chùa, mặc áo Phật mà vu oan giáng hoạ cho chúng tôi là người phá hoại, vu khống! Thật hết nói với hạng người nầy.

Ai phá hoại chùa Diệu Giác?

Qua những trình bày trên thì quý vị đã thấy rõ và quý vị tự trả lời lấy.

Nỗi đau của gia đình chúng tôi chưa kịp nguôi ngoai vì cố Ni Trưởng viên tịch một cách đột ngột không một lời trăn trối. Tiếp theo là nỗi đau do Huệ Trí gây nên trong việc xây tháp cho cố Ni Trưởng. Thứ nữa khi cố Ni Trưởng viên tịch có để lại một số tài sản mà theo pháp luật hiện hành có liên quan đến chúng tôi, Huệ Trí không hề hé răng cho chúng tôi biết một tí gì và ngang nhiên chiếm đoạt. Nay Huệ Trí lại làm một việc không ai có thể chấp nhận được là bất chấp di ngôn của cố Ni Trưởng để lại, ngang nhiên soán đoạt chức vị trụ trì chùa của đệ tử của cố Ni Trưởng. Việc làm nầy không phải là lừa thầy phản bạn thì là gì? Việc làm nầy có phải là việc làm của kẻ tu hành không? Việc làm nầy có phải là hành động cướp cạn không? Việc cử người kế thế trụ trì có phải cố Ni Trưởng làm một cách âm thầm và dấu diếm không ai biết đâu, nên nay có quyền soán đoạt? Theo quan điểm của chúng tôi thì ai làm trụ trì cũng không quan trọng, ở đây chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến hành động “phản bội” thầy, bạn của Huệ Trí và những người đồng loả cũng như việc Huệ Trí xúc phạm cố Ni Trưởng và gia đình chúng tôi là chính.

Càng nói càng buồn nhưng không nói không được.

Hởi những Phật Tử chân chính! Chúng ta có nên tiếp tục để theo những người như Huệ Trí không? Cả Hạnh Tịnh, Hạnh Châu và Hạnh Ngọc là những kẻ tôi biết vì tiền bạc mà phản bội lại thầy của mình để chạy theo và đồng loả với việc làm sai trái của Huệ Trí? Nhất định là không. Người Phật Tử chúng ta có hai đức tính căn bản là từ bi và trí tuệ. Chúng ta không thể nói vì từ bi mà nhắm mắt tin bướng tin càn vào bất cứ ai. Chúng ta phải dùng trí tuệ để phân biệt chánh tà, đúng sai, giả thật. Không vì quyền lợi, tiền bạc mà e sợ chạy theo những tên sư giả, ni giả trốn tránh trong chùa lợi dụng gạo tiền của đàn na tín thí để vinh thân phì gia. Vẫn biết rằng ở đời giả thật khó phân, tuy nhiên có điều không có gì có thể dấu diếm được lâu, cái kim trong túi lâu ngày cũng lòi ra. Đức hạnh hay tội lỗi của mỗi con người chúng ta cũng dễ nhận biết thôi. Bởi vậy từ xưa đến nay những người đức hạnh hay tội lỗi có ai tự nói ra đâu nhưng trong dư luận của quần chúng người ta biết rõ mồn một và đánh giá một cách chính xác.

Với những lời tâm huyết được trang trải trên trang giấy nầy với chỉ một mục đích và hy vọng thôi, đó là những kẻ tham lam, bất chấp đạo lý hãy quay đầu, vì như Chư Phật và chư Tổ đã dạy: “quay đầu là bờ”, để trả lại sự yên bình và nét đẹp vốn có từ xưa nay của chùa Diệu Giác.

Mong lắm thay!

Kim Long, ngày 09 tháng 09 năm Nhâm Thìn (24.09.2012)

Tâm Thường Thái Tăng Phôi

Bào Huynh của cố Ni Trưởng Bảo Nguyệt Thái Thị Lê

Nguyên trụ trì chùa Diệu Giác.

Vài nét về Chùa Sư Nữ Diệu Giác

 

Nhân kỷ niệm 34 năm thành lập

1971 – 2005

 

 

Chùa Sư Nữ Diệu Giác tọa lạc tại số 6/10 đường Trần Não, phường Bình An, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) là một trong những ngôi Chùa Sư Nữ có mặt khá lâu trên vùng đất nầy – từ năm 1971 thế kỷ trước – do Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không khai sơn sáng lập.

DUYÊN KHỞI

Sau Pháp nạn 1963, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, công việc hoằng dương Chánh Pháp được mở rộng khắp mọi miền đất nước, từ thị thành cho đến thôn quê.

Vốn là một vị Ni, tài đức song toàn và là nhà lãnh đạo kiệt xuất trong hàng Ni chúng của Giáo Hội, Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không đã không thiếu vắng bước chân của mình trên mọi miền đất nước, từ miền Trung khô cằn cát đá vào đến miền Nam trù phú ruộng lúa bạt ngàn, trong sứ mạng hoằng Pháp độ sanh, đem lại an vui cho mọi người. Trên bước đường hoằng Pháp ấy, Ni Trưởng đã để lại biết bao tình cảm sâu đậm với Phật Tử những nơi mà Người từng đặt chân đến. Từ những tình cảm ấy, khi đến vùng đất nầy có bà quả phụ Nguyễn Văn Anh tự Bùi Phương nhủ danh Phạm Mai Khanh, Pháp Danh Tâm Đức đã phát tâm cúng dường cho Ni Trưởng một sở đất với diện tích 4.615 mét vuông với tâm nguyện xây dựng một ngôi Già Lam làm nơi thờ tự Tam Bảo và tu học cho hàng Ni chúng đồng thời cũng là nơi quy ngưởng cho tín đồ Phật Tử và thành lập một cơ sở từ thiện xã hội nhằm giúp đỡ đồng bào nghèo tại địa phương.

KIẾN THIẾT XÂY DỰNG

Không phụ với sự hảo tâm của Phật Tử Tâm Đức  Phạm Mai Khanh, Ni Trưởng đã hoan hỷ tiếp nhận và bắt đầu lập phương án kiến thiết xây dựng trong hoàn cảnh tài chánh lúc bấy giờ không lấy gì làm rộng rãi lắm.

Năm 1971, Chùa được xây tạm bằng một ngôi nhà cấp 4 chiều dài 21 mét, chiều rộng 10 mét, chia làm ba phòng; phòng giữa thờ Phật, hai phòng hai bên làm nơi ở cho chư Ni, phần trước nhà được ngăn làm hai phòng dành để tổ chức hai lớp học Mẫu Giáo miển phí.

Năm 1973, do nhu cầu nơi ở của chư Ni, Chùa đã được xây thêm 1 tầng lầu dành riêng để thờ Phật, còn tầng trệt dùng để thờ Tổ và làm nơi ở của chư Ni cùng hai lớp học Mẫu giáo như cũ.

Sau gần 20 năm kể từ ngày đặt nền móng xây dựng, ngôi Chùa vẫn còn mang nét thô sơ, chưa có gì gọi là một ngôi già-lam đúng nghĩa, cả về mặt mỹ thuật đến quy mô. Do đó, năm 1989 Chùa đã được khởi công xây dựng thêm tiền đường và hai lầu chuông trống.

Năm 1997, một lần nữa do nhu cầu ăn ở tu học của Ni chúng, Chùa lại được tái thiết mở rộng thêm kể cả tầng trệt, tầng lầu và nhà bếp. Kinh phí xây dựng nhờ vào sự phát tâm cúng dường của Phật Tử mười phương. Ngoài việc kiến thiết Chùa, các công trình phụ khác cũng được xây dựng. Đó là Nhà Nuôi Dạy Trẻ Mồ Côi, được xây dựng theo mô hình chữ U, hai tầng. Tầng trệt gồm nhà bếp, nhà ăn, phòng y tế, phòng truyền thống, thư viện. Tầng lầu bên phải là nhà ở dành cho các em nam, bên trái là nơi ở dành cho các em nữ. Phía trước nhà nuôi dạy trẻ là quán cơm chay, phòng thêu may và phòng tư vấn HIV/AIDS.

BÀI TRÍ THỜ TỰ

Từ ngoài cổng đi vào, giữa sân là tôn tượng đức Bồ Tát Quán Thế Âm lộ thiên cao 3 mét.

Vào đến tầng trệt, ở giữa là bàn thờ di ảnh cố Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không, vị Tổ khai sơn Chùa; hai bên là nơi ở của Ni chúng.

Tầng lầu, bước lên cầu thang, từ ngoài nhìn vào tiền đường hai bên là lầu chuông trống và đây cũng là nơi thờ ảnh  vị của chư thiện nam tín nữ phật tử quá cố. Qua khỏi cửa chính là bái đường, hai bên trái phải là bàn thờ hai vị Tiêu Diện Đại Sĩ và Hộ Pháp. Đi vào phía trong là chánh điện, ba bàn bên trong cùng, ở giữa là bàn thờ tôn tượng đức Bổn Sư Thích Ca, hai bên trái phải là bàn thờ đức Bồ Tát Quán Thế Âm và Địa Tạng Đại Sĩ. Bàn giữa dưới tôn trí tượng đức Bổn Sư, hai bên là tôn tượng đức Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền, chiều cao  mỗi tượng 0,80 mét bằng gỗ giả cổ do các Phật Tử Đài Loan hỷ cúng. Bàn dưới ngoài cùng là bàn Kinh, ngoài chuông mõ và Kinh Pháp nhật dụng, còn tôn trí tượng đức Bổn Sư nhập Niết Bàn mạ vàng của Thái Lan và bộ Kinh viết trên lá Bối. Phía sau chánh điện là bàn thờ Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma, tượng được điêu khắc bằng gỗ mít và di ảnh chư Tôn Hoà Thượng viên tịch; hai tủ hai bên thờ Đại Tạng Kinh bằng chữ Hán do Phật Tử Đài Loan hiến cúng. Hai bên chánh điện là phòng ở của Ni chúng.

KẾ THẾ TRÚ TRÌ

Năm 1971, Cố Ni Trưởng Thích Nữ Dịệu Không trực tiếp đãm nhận Trụ Trì trong những ngày mới sơ khai thành lập.

Năm 1972, do Phật Sự đa đoan, Ni Trưởng không thể thường xuyên lưu trú tại nơi nầy được nên đã uỷ giao cho Ni Sư Thích Nữ Bảo Nguyệt đãm nhiệm Trụ Trì cho đến nay (2005).

Chùa hiện có 30 vị Ni lưu trú tu học gồm 22 vị Tỳ Kheo Ni, 5 vị Sa Di Ni, 2 vị Thức Xoa và 1 điệu. Hầu hết chư vị đều có trình độ Phật học từ Cơ bản đến Đại học. Ngoài ra, còn có 1 vị đang du học chương trình Tiến Sĩ Phật học tại Ấn Độ, 1 vị du học tại Hoa Kỳ, 1 vị tại Myama (Miến Điện), 1 vị vừa hoàn tất chương trình tu nghiệp về Xã Hội Học tại Australia (Úc Đại Lợi). Về trình độ văn hóa, hầu hết chư vị đều tốt nghiệp từ Trung học Phổ Thông đến Đại Học.

ĐẠO TRÀNG BÁT QUAN TRAI GIỚI

Kể từ ngày Chùa được thành lập, Phật Tử ở địa phương cũng như các quận huyện trong thành phố quy tụ về tu học ngày càng đông. Để kết nối tình thâm, tương thân tương ái giữa các Phật Tử đồng thời để công việc tu học và hộ trì Tam Bảo quy củ nề nếp và hiệu quả hơn, Đạo Tràng Tu Bát Quan Trai Giới đã được hình thành và quy tụ nhiều Phật Tử thuần thành đạo tâm. Nhiệm vụ chính của Đạo Tràng Tu Bát Quan Trai Giới là sách tấn nhau tu học, tham gia và hỗ trợ các sinh hoạt của Chùa nhất là trong các dịp lễ lạt, tham gia các công tác từ thiện xã hội do Chùa tổ chức. Kể từ ngày thành lập đến nay, Đạo Tràng Tu Bát Quan Trai Giới đã đóng góp phần không nhỏ trong việc phát triễn của Chùa, nhất là sinh hoạt tu học và công tác từ thiện xã hội. Quý Phật Tử luôn luôn tinh tấn tham gia các khóa tu Bát Quan Trai Giới, làm các Phật sự khác khi Chùa cần đến. Đặc biệt trong công tác từ thiện xã hội đã phối hợp với Chùa đi cứu trợ đồng bào nghèo vùng sâu vùng xa, hoặc đồng bào bị bịnh tật do chất độc màu da cam của các tỉnh Lâm Đồng và Quảng Trị. Đi cứu trợ đồng bào bị bão lụt tại các tỉnh miền tây Nam Bộ và các tỉnh miền Trung. Ngoài ra, còn đi cúng dường trường hạ tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh như Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai v.v…

NHÀ NUÔI DẠY TRẺ MỒ CÔI

Sau ngày kết thúc chiến tranh hoà bình thống nhất đất nước, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn : đói nghèo, bịnh tật v.v…Trước hoàn cảnh ấy, một bộ phận trẻ em mồ côi không nơi nương tựa lang thang kiếm sống khắp ngõ ngách phố phường. Một số kém may mắn khác, các em do các bà mẹ lầm lỡ không đủ điều kiện nuôi nấng khi sinh ra nên đang tâm đem vất bỏ trước cổng Chùa. Tất cả những yếu tố đó đã góp phần hình thành  Nhà Nuôi Dạy Trẻ Mồ Côi Diệu Giác.

Từ năm đầu tiên 1989, trải qua những năm tháng khó khăn chồng chất, nhưng nhờ sự quan tâm giúp đỡ và can thiệp của các cấp Giáo Hội, Chính quyền các cấp từ Phường đến Quận, Thành phố; bằng quyết định số 5716/QĐ/UB ngày 18.10.2001 đã chính thức công nhận Nhà Nuôi Dạy Trẻ Mồ Côi Diệu Giác là cơ sở từ thiện xã hội của Giáo Hội.

Ngoài tấm lòng từ bi bao la của chư Ni trực tiếp nuôi dạy chăm sóc, còn có sự hảo tâm giúp đỡ về cả vật chất lẫn tinh thần của Phật Tử và đồng bào các giới khắp gần xa. Nhờ vậy, Nhà Nuôi Dạy Trẻ Mồ Côi Diệu Giác đã cưu mang đến con số 125 em ăn học. Ngoài phần nuôi dạy về văn hóa, nghề nghiệp, các em còn được dạy dỗ hướng dẫn về mặt đạo đức, cách xử thế và được yêu thương chăm sóc như con một gia đình vậy. Mặt khác, các em còn được tham gia tập luyện võ thuật, các môn thể dục thể thao, sinh hoạt văn hóa văn nghệ. Các em đã từng tham gia hội diễn văn nghệ, biểu diễn võ thuật, bóng đá và tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS do các cấp Quận và Thành phố tổ chức và đạt được nhiều thành tích cao cùng nhận nhiều phần thưởng có giá trị lẩn bằng khen.

Sau 16 năm thành lập, một số lớn các em đã tốt nghiệp trình độ văn hoá Trung học Phổ Thông, một số khác đã có nghề nghiệp sinh sống ổn định. Số còn lại đang học các cấp tại các trường trong Phường và Quận.

 GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

Ở đâu có Chùa, có cha mẹ đến Chùa là có con em đi theo lên Chùa cùng học cùng tu. Nhưng để phù hợp với lứa tuổi của các em, không thể để các em sinh hoạt chung với những người lớn. Đó là lý do Gia Đình Phật Tử ra đời kể từ lễ Vu Lan năm 1991 lấy tên là Gia Đình Phật Tử Đức Tâm. Bước đầu, từ vài chục em leo ngoeo đến nay đã có 70 em gồm cả Huynh Trưởng và Đoàn Sinh. Sự sinh hoạt tu học mỗi ngày một phát triễn và đi vào nề nếp, quy củ theo đúng Nội quy, mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Gia Đình hiện do một Bác Gia Trưởng và một Ban Huynh Trưởng điều khiển dưới sự Cố Vấn Giáo Hạnh của Ni Sư Trú Trì.

Qua hơn 10 năm sinh hoạt, các em đã đóng góp cho Chùa nhiều Phật sự có ý nghĩa, nhất là vào các dịp lễ vía Phật trọng đại trong năm. Đặc biệt trong dịp lễ Phật Đản vừa qua Gia Đình đã thiết kế lễ đài rất đẹp, quy mô và công phu. Riêng bản thân Gia Đình, đã đào luyện nhiều em thanh thiếu đồng niên trở thành những Phật Tử thuần thành gương mẫu, nhiều Huynh Trưởng cốt cán đạo tâm, nhiệt tình với tổ chức, với Đạo Pháp.

Gia Đình sinh hoạt hàng tuần vào chiều chủ nhật.

 KẾT LUẬN

Đã 34 năm trôi qua kể từ ngày có mặt tại địa phương, nơi trước đây là vùng bùn lầy nước đọng và sau mấy lần trùng tu chắp vá vì chưa đủ điều kiện, Chùa Sư Nữ Diệu Giác vẫn là ngôi Già Lam khiêm tốn tọa lạc giữa một khu đô thị mới toàn là những ngôi biệt thự cao cấp.

Để tương xứng là ngôi Già Lam tượng trưng cho nét văn hóa Phật Giáo đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc giữa trung tâm khu đô thị mới của Quận 2 và Thành Phố, chúng tôi mang ước vọng và tâm nguyện, khi cơ duyên đầy đủ sẽ tiến hành đại trùng tu quy mô hơn, đẹp đẽ hơn ngõ hầu đáp ứng được phần nào sự mong mỏi của Phật Tử gần xa cũng như nhu cầu sinh hoạt tu học của Ni chúng và Phật Tử đồng thời làm nơi tham quan chiêm bái của thập phương thiện tín và du khách.

Ước mong các cấp Giáo Hội và Chính quyền địa phương: Phường, Quận, Thành Phố tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi hoàn thành Phật sự nầy.

Mùa An cư Phật Lịch 1549 – Ất Dậu – 2005

Tâm Thường

VỀ VIỆC HUỆ TRÍ SOÁN ĐOẠT CHỨC VỊ TRỤ TRÌ

VỀ VIỆC HUỆ TRÍ SOÁN ĐOẠT CHỨC VỊ TRỤ TRÌ

CỦA SƯ CÔ HẠNH NGHIÊM,

ĐỆ TỬ CỦA CỐ NI TRƯỞNG NGUYÊN TRỤ TRÌ

CHÙA SƯ NỮ DIỆU GIÁC

 

 

Đang trong không khí vui tươi chuẩn bị cho mùa Vu Lan Báo Hiếu thì tôi nhận được tin từ Đạo Tràng chùa Diệu Giác cho biết: “ Chùa Diệu Giác vừa trải qua một cuộc biến động chưa từng có.  Đó là vào ngày 10.07.Nhâm Thìn nhằm ngày 26.08.2012, cô Trí  đă tổ chức một cuộc họp gồm đại diện Ni chúng và đại diện Đạo Tràng Phật Tử chùa Diệu Giác để công bố việc cô ta sẽ lên làm trụ trì thay cho Sư Cô Hạnh Nghiêm, người được cố Ni Trưởng truyền trao kế thế Trụ trì , với lý do Sư Cô Hạnh Nghiêm không đủ tài đức để đảm nhiệm chức vụ nầy”.

Phản ứng đầu tiên của tôi là hết sức bàng hoàng và xúc động. Bởi lẽ việc làm nầy chỉ xẩy ra đối với người vô đạo, nhất là trong thời gian đang là mùa an cư kiết hạ và chuẩn bị cho lễ Vu Lan, chúng Tăng tự tứ. Hơn nữa cũng đang trong thời kỳ cử tang cố Ni Trưởng. Ở thế gian người ta không làm như thế huống hồ là nhà tu.

Việc ai làm trụ trì chùa, bản thân chúng tôi không có gì liên quan, song trong vụ việc nầy cô Trí đă xúc phạm đến cố Ni Trưởng là em ruột của chúng tôi và động chạm đến danh dự của gia đình chúng tôi nên buộc lòng chúng tôi phải lên tiếng.

Nguồn tin cho biết, trước đại diện Ni chúng và đại diện Đạo tràng Phật Tử, cô Trí đă huênh hoang kể lể công lao to lớn lo lắng cho chùa về mọi mặt từ trước đến nay. Việc nầy ám chỉ rằng Cố Ni Trưởng là người bất tài, chỉ làm trụ trì bù nhìn mà thôi, không lo gì được cho chùa Diệu Giác. Ngoài ra cô Trí còn kể công lao đă đưa hai đứa con của chúng tôi đi Mỹ và được đi bằng máy bay nữa. Dễ sợ!!! Phật tử tại gia khi làm ơn làm phước còn không kể lể huống hồ đây được mệnh danh là Tăng Sĩ Phật Giáo. Ôi! sự đời oái oăm!

Mới chỉ trình bày chừng đó đă thấy tỡm lợm con người vô đạo đức và gian manh của cô Trí. Do đó sau khi cô Trí trình bày đă bị Phật tử phản đối gay gắt và quyết liệt. Tuy vậy, với thái độ bất cần liêm sĩ, lì lợ̣m, cô Trí vẫn chì mặt nhắm mắt che tai để làm theo lòng tham của mình.

Từ xưa đến nay ngoài thế gian cũng như trong đạo mà tôi được biết, thì không  thầy tổ nào, cha mẹ nào trước khi lâm chung lại không  di chúc trao truyền gia thế đạo nghiệp cho đệ tử, cho con cái và cũng không có ai lại đi truyền trao cho huynh đệ bao giờ cả. Ở đây cố Ni Trưở̉ng cũng đă làm như thế. Việc nầy đúng với đạo lý xưa nay mà không ai có thể chối cãi được. Thế thì việc dành quyền đoạt chức trụ trì của cô Trí từ cô Hạnh Nghiêm có đúng không? Hỏi tức là trả lời vậy.

Chúng tôi được biết, một thời gian dài trước khi viên tịch, cố Ni Trưởng đã chuẩn bị tinh thần cho Sư cô Hạnh Nghiêm là người kế thế trụ trì. Việc nầy trong thời gian cố Ni Trưởng còn tại thế, những lần lên thăm, chúng tôi đều có nghe từ kim khẩu của cố Ni Trưởng. Tuy nhiên để tỏ ra là người hiểu biết, lịch sự cố Ni Trưởng không quên người bạn đạo đă bao năm gắn bó với mình trên đường tu học nên có đưa ra ý kiến để cho cô Trí làm trụ trì khi Ni Trưởng viên tịch. Nhưng cô Trí đă kịp từ chối. Việc từ chối của cô Trí là đúng với lẽ đạo, đúng với một người tu hành chân chánh khơng quan tâm đến danh lợi, chức vị.

Khi cố Ni Trưởng viên tịch, trong lễ tang mọi người xầm xì ai sẽ là người kế thế trụ trì? Những người am hiểu trong chùa nói rằng đó là Sư Cô Hạnh Nghiêm. Và sau đó ai cũng nghĩ và công nhận như thế vì trong lễ tang, Sư Cô Hạnh Nghiêm là người bưng Y Bát của cố Ni Trưởng.

Thế mà nay vì lòng tham không đủ, trong khi chùa đang yên bình thanh tịnh, đang trong 3 tháng an cư, đang chuẩn bị cho lễ Vu Lan, chúng Tăng tự tứ, nhất là đang trong thời gian cử tang cố Ni Trưởng, cô Trí lại ngang nhiên tổ chức họp và tuyên bố cô ta là trụ trì, gây nên sự xáo động không đáng có, làm cho Ni chúng và Phật tử  bức xúc, lòng người không yên. Thật hết biết!

Theo dư luận của Ni chúng và Phật tử thì Sư Cô Hạnh Nghiêm là người tu hành chân chánh, giới đức nghiêm tịnh, thật thà chất phác, không mưu mô, tham danh tham lợi, không tráo trở lừa thầy phản bạn., chỉ y chỉ theo lời di huấn của Bổn Sư thi hành bổn phận.  Thế thì cô Trí lấy tư cách gì, lý do gì để ngang nhiên soán đoạt chức vị trụ trì của sư cô Hạnh Nghiêm?

Chúng tôi được biết, trước khi tiến hành cuộc họp nói trên cô Trí đă ra tận Huế vận động các bà sư ngoài chùa Hồng Ân ủng hộ việc làm sai trái của cô ta. Những tưởng chỉ có cô Trí sai, không ngờ các bà sư ấy cũng làm sai. Có lẽ vì lời ngon ngọt dụ dỗ của cô Trí, cộng với sự về hùa của những kẻ bất lương mang lốt tu sĩ tác động, họ nhắm mắt nghe theo và phái vào chùa Diệu Giác hai bà sư để làm áp lực với cô Hạnh Nghiêm cũng như đại chúng chùa Diệu Giác bằng một lá thư của bà sư nào đó mà chắc tai cũng không còn nghe rõ và mắt cũng không còn thấy rõ để soán đoạt chức vị Trụ trì.

Việc cô Trí  làm với sự đồng loả của mấy bà sư ở chùa Hồng Ân, Huế soán đoạt chức vị trụ trì của Sư Cô Hạnh Nghiêm là phủ nhận công lao và ân đức của cố Ni Trưởng đối với Tông môn Pháp phái, Ni chúng và đạo tràng Phật tử chùa Diệu Giác nói riêng và đạo pháp nói chung. Sự việc gây ra nhằm vào thời điểm chư Tăng  Ni đang trong mùa An Cư Kiết Hạ, Tăng Ni Phật Tử đang hân hoan chuẩn bị đón mừng mùa Vu Lan Thắng Hội, báo hiếu Phụ Mẫu, nhất là chưa qua ngày mãn tang của cố Ni Trưởng. Đây là một tội ác trời không dung đất không tha. Cô Trí có xứng đáng làm Sư hay không, chưa nói đến việc làm trụ trì.

Trở lại việc cô Trí kể công lao trời bể với chùa Diệu Giác là ngầm phủ nhận và bất kính với cố Ni Trưởng. Đồng ý rằng cô Trí là người có  đóng góp công sức xây dựng nên chùa Diệu Giác, nhưng như lời cố Ni Trưởng nhiều lần nói với chúng tôi là : “ Cô Trí làm không đủ để cô ta phá mà thôi”.  Đúng vậy, trong quá khứ khi chùa có xây dựng gì, cô Trí thường tự tung tự tác, xây rồi , không vừa ý là đập đi làm lại, tốn hao của Tam Bảo bất kể sự can ngăn của cố Ni Trưởng. Còn việc thi công thì gọi cháu rể của cô đến làm và thời gian thì kéo dài vô tận, làm cho cố Ni Trưởng phiền muộn và phàn nàn nhiều lần với chúng tôi. Những sự việc nầy thì đại chúng chùa Diệu Giác ai mà không biết. Suốt mấy mươi năm cố Ni Trưởng đă phải chịu biết bao cay đắng do những việc làm của cô Trí gây ra cho chùa. Nhưng có điều cố Ni Trưởng là người giỏi chịu đựng, nhẫn nhục tối đa nên mọi việc đều vượt qua. Nếu không có sự nhẫn nhục và cầm cương nẩy mực thì mỗi người đi một ngã từ lâu rồi không có chùa Diệu Giác như ngày hơm nay đâu.

Năm 2009 hay 2010 gì đó mà chúng tôi nhớ không rõ,  cố Ni Trưởng trong câu chuyện với chúng tôi khi lên thăm, Sư nói: “ Sắp làm chùa rồi, em lo bấn lên mà vừa rồi phải đưa cho cô Trí hai (02) tỷ, không biết khi nào cô mới trả lại đây”. Ngoài ra, chúng tôi còn nghe cố Ni Trưởng cũng cho Sư Cô Hạnh Châu mượn Hai (02) tỷ để xây chùa nhưng chúng tôi không nhớ là cho mượn lúc nào. Tất cả những số tiền đó đều là tiền cố Ni Trưởng chuẩn bị cho việc làm chùa.

Theo nhản quan của chúng  tôi thì cô Trí chỉ là một con buôn, núp bóng nhà chùa, núp bóng em tôi để làm giàu cho gia đình thân thuộc cô ấy mà thôi. Đúng vậy, không là con buôn thì tiền đâu để  cô mua nhà, mua xe, mua đất khắp nơi  như nhà ở khu công nhân Thủ Thiêm, đất tại Dầu Giây,  tại Long Thành Đồng Nai v.v… Việc mua đất và nhờ người đứng tên xin hỏi cô Loan – Nguyên Thanh thuộc Đạo Tràng Phật Tử chùa thì biết.

Để che lấp những việc làm của mình và cũng để gọi là trả ơn cho cố Ni Trưởng, cô Trí và gia đình cô đã tổ chức lễ tạ ơn đối với cố Ni Trưởng. Ngoài ra, cô Trí còn cho cháu tôi một sở đất cạnh chùa để làm nhà ở nhưng cho rồi mà cứ đòi lại hoài; cho con tôi một sở đất tại Long Thành để làm tịnh thất như là một hành động trả ơn vậy. Như vậy đấy mà cô Trí  cho rằng cố Ni trưởng là người không làm gì được và nay phản lại những gì cố Ni Trưởng đă làm, ngang nhiên soán đoạt chức vị trụ trì của đệ tử của cố Ni Trưởng. Con người như vậy có xứng đáng đảm nhiệm chức vị trụ trì hay không?

Nhà tu mà không hề tụng kinh, không giảng được Pháp cho Phật Tử, không biết nghi lễ và cũng không làm thân giáo cho Phật Tử noi theo mà làm trụ trì được sao?

Còn việc đưa hai đứa con chúng tôi đi Mỹ mà đi bằng máy bay hẳn hoi nữa cơ. Thật tuyệt vời. Sự việc nầy đúng ra bản thân chúng tôi không đích thân nhờ cậy cô Trí và cũng không gián tiếp nhờ cố Ni Trưởng nhờ cô Trí làm giúp dù nói là giúp nhưng phải trả tiền sòng phẳng như những người khác. Đây là chuyện ân nghĩa giữa Cô Trí đối với cố Ni Trưởng.

Trong những năm của thập kỷ 80, 90 thế kỷ trước, cô Trí là người chuyên làm dịch vụ đưa người ra nước ngoài. Trước hết là lo cho thân nhân ruột thịt của cô Trí, sau đó là những người quen và cuối cùng là thiên hạ. Dĩ nhiên để có điều kiện lo cho dịch vụ, ngoài vốn tự có, cô Trí còn phải nỉ non với cố Ni Trưởng để moi tiền. Ni trưởng vốn là người nhẹ dạ nên lúc nào cô Trí cần tiền là cố Ni Trưởng đáp ứng. Do đó mới có chuyện ân qua nghĩa lại mà kết quả là hai đứa con chúng tôi được cô Trí lo cho đi Mỹ. Nhưng trớ trêu là một trong hai đứa con của chúng tôi không chịu đi.Vì vậy cô Trí cùng người anh phải đích thân về nhà tôi để vận động khuyên nhủ suốt một ngày giữa mùa mưa gió, đường sá lầy lội nhưng không có kết quả, đành phải thất vọng đi lên lại Sài Gòn. Tuy nhiên sau đó, nhân dịp lễ Vu Lan, trước khi chúng tôi đi cúng dường trai Tăng đă khuyên con nên nghĩ lại  và sau khi về phải có kết quả tốt; vì nếu cháu không đi thì cả gia gia đình cô Trí không ai đi được. Đúng y như rằng, sau khi đi cúng dường trai Tăng về, chúng tôi đã được cháu đồng ý. Theo cô Trí ra giá thì mỗi đứa con chúng tôi ra đi phải trả hai cây vàng trị giá một ngàn đô la theo tỷ giá lúc bấy giờ. Có điều đặc biệt là khi các cháu qua Mỹ làm có tiền sẽ gởi về trả, mà không phải trả trước bên nầy, vì nếu có đòi trả bên này thì chúng tôi cũng không có. Nhưng sau thời gian, khi các cháu đi làm và gởi tiền về chúng tôi đã trả đủ như giá đă ra, nhưng cô Trí lại đòi thêm mỗi đứa hai cây vàng nữa, nghĩa là phải trả cho cô bốn cây vàng mỗi đứa thay vì hai cây như cô Trí đă ra giá trực tiếp với tôi. Tôi không đồng ý và phản đối sự lật lộng của cô. Bởi vì thời buổi ấy cô Trí cho tôi biết, lo 4 cây vàng là xách va ly lên sân bay đi liền không phải đợi như hai đứa con của chúng tôi trước đó. Nhưng nói gì thì nói chúng tôi vẫn cám ơn cô Trí về sự giúp đỡ nầy. Nhưng ơn là ơn mà việc không đúng không thể không nói.

Những việc trình bày trên là chưa nói đến việc sai trái của cô Trí về việc xây tháp cho cố Ni Trưởng. Từ xưa đến nay không có ai trên đời nầy xây mã người chết lại đi xây thân xác nằm một hướng, cữa mã (tháp) nằm một hướng khác. Trên đời nầy chỉ có cô Trí mà thôi.

Đối với các cô đệ tử của cố Ni Trưởng là những người được ăn học đàng hoàng có bằng cử nhân, tiến sĩ, tệ lắm là trung học phổ thông nên phải dùng sự hiểu biết của mình mà đối nhân xử thế, không thể vì tiền, vì lợi lộc, vì ganh tỵ mà nhắm mắt chạy theo, phục tùng  kẻ ngu dốt, làm việc trái với đời, trái với đạo nhiều lần, phản bội lại thầy của mình. Gia tài của thầy tổ, cha mẹ mình để lại mà hèn nhát để cho kẻ khác cướp trên tay bất chấp luân thường đạo lý. Thế mà khoác áo cà sa của Phật trên mình được sao? Làm mô phạm cho  hàng Phật Tử tại gia được sao? Tiếp tục làm đệ tử của cố Ni Trưởng được sao? Từ Bi Hỹ Xã của đạo Phật không thể là thứ Từ Bi Hỹ Xã hão huyền, trái lại phải có trí tuệ kèm theo.

Qua những tŕnh bày trên của chúng tôi dù thô thiển khó nghe nhưng cũng chỉ với mục đích duy nhất là mong muốn những gì cố Ni Trưởng tạo dựng và xây đắp cho chùa, cho Đạo Pháp cần phải được giữ gìn; những gì cố Ni Trưởng di chúc cho đệ tử trước lúc lâm chung phải được tôn trọng và thi hành; không có bất cứ lý do gì và không ai dù có nhân danh gì, ngoài luật Phật và thông lệ đã có, có quyền để làm trái.

Đã mang danh đệ tử của Phật là những người lấy trí tuệ làm nghiệp của mình – duy tuệ thị nghiệp –  thì xin đừng để vô minh che lấp xử sự với nhau trái với tình đời lẽ đạo làm thế gian chê cười và mất lòng tin của phật tử tại gia đối với Tam Bảo.

Mong thay.

Kim Long, ngày 17.07.Nhâm Thìn – 02.09.2012

Tâm Thường Thái Tăng Phôi

Bảo Huynh cố Ni Trưởng Bảo Nguyệt Thái Thị Lê

Nguyên trụ trì chùa Diệu Giác

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

VIẾT THÊM VỀ VIỆC HUỆ TRÍ SOÁN ĐOẠT CHỨC VỊ TRỤ TRÌ CỦA SƯ CÔ HẠNH NGHIÊM ĐỆ TỬ CỦA CỐ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ BẢO NGUYỆT

NGUYÊN TRỤ TRÌ CHÙA SƯ NỮ DIỆU GIÁC

SÀI GÒN

Ngày 18 tháng giêng năm Tân Mão nhằm ngày 20.02.2011, Ni Trưởng Thích Nữ Bảo Nguyệt Trụ Trì chùa Sư Nữ Diệu Giác đã đột ngột từ trần để lại bao tiếc thương  cho đồ chúng và thiện nam tín nữ gần xa cũng như thân bằng quyến thuộc.

Lễ tang của cố Ni Trưởng đã được diễn ra ngay sau đó  -  vào những ngày từ 18 đến 24.01.Tân Mảo (20 – 26.02.2011).

Khi cố Ni Trưởng viên tịch, việc lễ tang do Giáo hội địa phương cùng môn đồ pháp quyến phối hợp tổ chức, trong đó có các vị xuất gia và tại gia là thân bằng quyến thuộc của cố Ni Trưởng như Hoà Thượng Thích Thiện Tấn, Trưởng Ban Trị Sự Tỉnh Giáo Hội Quảng Trị; Ni Trưởng Thích Nữ Bảo Hoa, trụ trì chùa Sư Nữ Huyền Trang – Huế; Thượng Toạ Thích Viên Giác, trụ trì chùa Từ Tân – TP.Hồ Chí Minh, Đại đức Thích Minh Hiền, trụ trì tịnh thất Huyền Trang – Biên Hoà; Đại Đức Thích Quảng Thiện, chùa Từ Tân – TP. Hồ Chí Minh, Đại Đức Thích Viên Thành, chùa Cam Lộ, Quảng Trị; Sư Cô Thích Nữ Hạnh Phước, SC. Thích Nữ Hạnh Hà, SC. Thích Nữ Hạnh Diệu, chùa Diệu Giác – TP. Hồ Chí Minh; Phật Tử Tâm Thường Thái Tăng Phôi là anh ruột cố Ni Trưởng cùng gia đình, anh em, con cháu khác.

Trước lúc tang lễ diễn ra chúng tôi được biết phòng của cố Ni Trưởng trong đó lưu giữ các giấy tờ liên quan đến tài sản của cố Ni Trưởng để lại đã được Ni chúng niêm phong. Những tưỡng việc niêm phong nầy sẽ được khui mở sau khi lễ tang đã hoàn mãn với sự chứng kiến của Ni chúng và các vị liên quan đến cố Ni Trưởng. Nhưng than ôi! Trong lúc tang lễ đang diễn ra, khách khứa ra vào tấp nập, chỉ ba ngày sau ( một hai ngày gì đó chúng tôi nhớ không rõ lắm) kể từ khi Cố Ni Trưởng viên tịch, Huệ Trí đã tự động kéo theo một số người thân tín trong chùa lên khui mở phòng của cố Ni Trưởng mà không cần thông báo cho các vị trong tông môn pháp phái, các vị xuất gia trong thân tộc cũng như bản thân của chúng tôi là anh ruột của cố Ni Trưởng để chứng kiến việc kiểm kê tài sản của cố Ni Trưởng. Tuy nhiên, khi đang kiểm kê, Hoà Thượng Thiện Tấn tình cờ phát giác bởi Hoà Thượng không thấy quý cô trong Ni chúng tiếp khách và cũng không có mặt tại linh đường nên đã đi lên lầu xem Ni chúng đi đâu hết. Khi đi ngang qua phòng của cố Ni Trưởng thì thấy Huệ Trí và một nhóm Ni đang lục lọi tủ và đôn của cố Ni Trưởng nên liền quở trách.

Kết quả của việc kiểm kê như thế nào thì chỉ có Huệ Trí và những người thân tín biết mà thôi.

Theo quan điểm của chúng tôi, việc kiểm kê tài sản của cố Ni Trưởng nên tiến hành sau khi lễ tang đã hoàn mãn và thành phần tham dự, ngoài Ni Chúng chùa Diệu Giác phải có các bậc tôn túc đại diện trong tông môn pháp phái, những vị xuất gia cũng như tại gia v đại diện cho thân bằng quyến thuộc của cố Ni Trưởng. Vì rằng tài sản của cố Ni Trưởng để lại không những chỉ có tài sản mà còn có những kỷ vật liên quan đến gia đình nữa. Đằng này Huệ Trí đã tự ý tự quyền một mình một chợ, bất chấp đạo lý, bất chấp tôn ti trật tự chốn thiền môn đã đưa  những đệ tử của cố Ni Trưởng làm bình chắn để làm một việc mà không ai có thể chấp nhận được. Vì vậy khi Huệ Trí lên thanh minh thanh nga với Hoà Thượng Thích Thiện Tánh, Phó Ban Trị Sự Thành Hội PG. TP. Hồ Chí Minh sau khi bị HT. Thích Thiện Tấn quở trách đã bị Hoà Thương Thiện Tánh quở trách tiếp.

Tại sao Huệ Trí đã làm một việc vô liêm sĩ như vậy? Theo chúng tôi, đó là do lòng tham, Huệ Trí muốn chiếm đoạt tài sản của cố Ni Trưởng vào tay mình mà không để cho đệ tử của cố Ni Trưởng được thừa kế số tài sản đó. Vốn bản tính là chỉ biết tiền bạc nên dù khoác áo nhà tu lòng tham của Huệ Trí vẫn không đủ nên lúc nào cũng nghĩ đến tiền bạc và chuyên lo chuyện tiền bạc mà không lo trau dồi trí đức để cho quân ma dễ dàng thao túng, dẫn dắt.

Nếu là con người có đạo, nhất là khi khoác lên mình chiếc áo nhà tu, trong lúc lễ tang đang diễn ra, mọi sự trong chùa đều phải dẹp lại chỉ chuyên lo tụng kinh niệm Phật cầu nguyện, chu toàn việc tang, đó mới là hiếu để. Đằng này Huệ Trí chỉ lo chuyện chiếm đoạt tài sản của cố Ni Trưởng, sợ số tài sản ấy sẽ vào tay người khác nên đã vội vàng khui mở lấy giấy tờ và tài sản của cố Ni Trưởng đem về cất tại phòng riêng của mình. Thế mà trong lễ tang, Huệ Trí vật vã khóc lên khóc xuống. Đúng là trò hề, dùng nước mắt cá sấu để che đậy bộ mặt thật tham lam vô đạo đức của mình. Đúng là một diễn viên hề tuyệt mỹ, diễn xuất chẳng ai bằng được. Và nay Huệ Trí lại làm một việc tày trời là soán đoạt chức vị trụ trì của đệ tử của cố Ni Trưởng phản lại những gì Huệ Trí đã nói với cố Ni Trưởng trước đây về việc kế thế trụ trì chùa và trước hai Hoà Thượng Thiện Tấn và Thiện Tánh cũng về vấn đề nầy.

Với tư cách là người thừa kế hợp pháp tài sản của cố Ni Trưởng theo pháp luật hiện hành, chúng tôi là anh ruột của cố Ni Trưởng yêu cầu Huệ Trí phải công khai tài sản riêng tư của cố Ni Trưởng và trả lại cho chúng tôi – trong đó có giấy tờ đất đai, tiền, vàng.

Trường hợp Huệ Trí không đáp ứng yêu cầu nêu trên, chúng tôi sẽ nhờ đến sự can thiệp của pháp luật.

Kim Long, ngày 11 tháng 09 năm 2012

Tâm Thường Thái Tăng Phôi

Bào huynh của cố Ni Trưởng Bảo Nguyệt Thái Thị Lê

Nguyên trụ trì chùa Diệu Giác

MA VƯƠNG ĐàTHẮNG

Sư năm xuống

Bọn ma vương mừng vui hớn hở

Chúng tự tung tự tác… tha hồ

Bề ngoài miệng lưỡi cứ bô bô

“Thương Thầy” những giọt nước mắt cá sấu

Xây mộ Sư chúng bất chấp tốt xấu

Chuyện đúng sai lại cũng bất cần

Dù có người chỉ ra chúng chẳng phân vân

Hướng huyệt mộ một đằng cữa tháp xây một ngã

Chúng nói rằng Sư là người của Đạo cao cả

Chôn sấp lấp ngã cũng chẳng sao

Mỗi cái một đường mặc ai nói thế nào

Chúng vẫn cho như vậy là đúng đắn

Ôi! Lũ người ác độc còn hơn loài rắn

Chúng vui cười trên sự đau khổ của gia đình ta

Ta tủi nhục cùng bao nỗi xót xa

Thấy như thế lòng ai không bức xúc?

Sư là em ruột của ta mà ta đành bất lực

Không làm tròn bổn phận một người anh

Để những kẻ ngu si nhưng không thiếu gian manh

Ngoan cố không biết đâu là phải trái

Từ xưa đến nay đời ta chưa hề thấy

Ai xây mộ mà hướng đặt bia (mặt tháp) một ngã hướng huyệt mộ một đường

Chúng thử xem mồ mã ông bà cha mẹ chúng có cái nào xây như vậy không?

Chúng nói người của đạo làm sao cũng được

Đạo nào vô nhân ác đức xuẩn ngốc như thế?          

Chúng trả ơn Sư như thế đó sao?

Sai trái rành rành trước mắt đâu phải chiêm bao

Thế mà có những kẻ vẫn đồng loả với kẻ ngu mới lạ!

Trên đời nầy ta được biết lần đầu tiên trong thiên hạ

 Và đây cũng là lần cuối cùng

Ôi! Ta chỉ một mình mà làm được gì đây?

Bốn bề đàn quỷ dữ bủa vây

Và cuối cùng bọn ma vương đã thắng

Buồn thay!

 

Kim Long, ngày buồn, 25.03.Tân Mão (27.04.2011)

Tâm Thường

( Dieu Giac )

 

VỀ VIỆC XÂY MỘ THÁP CỐ NI TRƯỞNG CHÙA DIỆU GIÁC

1.- DIỄN BIẾN SỰ VIỆC

Trong dịp lễ chung thất của cố NiTrưởng trụ trì chùa Diệu Giác được cử hành vào hai ngày 7 và 8.03.Tân Mão nhằm ngày 9 và 10.4.2011 vừa qua có một số phật tử đến hỏi tôi về việc đặt bàn thờ tại tháp cúng cho Sư sao khác với trước, nghĩa là bữa đám tang thì đặt hướng khác mà nay lại đặt hướng khác. Thật ra việc nầy đối với tôi, tôi cũng chẳng để ý. Do đó mặc dù tôi đến chùa để dự lễ kể từ sáng ngày 6 và nhiều lần ra lạy nơi tháp Sư thế mà tôi vẫn không quan tâm đến hướng đặt bàn thờ như thế nào. Mãi đến chiều ngày 7 và sáng ngày 8 có một số phật tử đến hỏi tôi việc trên và tôi ra quan sát thực hư thì mới thấy biết. Đúng là có như vậy, nghĩa là bữa trước đang trong lễ tang thì bàn thờ đặt theo hướng huyệt mộ của Sư, nhưng nay thì đặt theo hướng mặt tháp. Như vậy huyệt mộ một hướng mà mặt tháp lại nằm một hướng khác. Thấy như vậy tôi và mọi người đều cho rằng không hợp lý. Vì theo tập tục từ xưa đến nay, việc xây mộ phần lúc nào huyệt mộ và nấm mộ – chỉ cho tháp – phải cùng một hướng và nếu có dựng bia cũng dựng dưới chân hay trên đầu theo hướng huyệt mộ cả. Và nếu xây tháp thì mặt tháp phải quay theo hướng huyệt mộ, không thể hướng huyệt mộ một đường mà hướng tháp một nẻo, dù vì lý do gì. Đây là một việc làm chưa từng xẩy ra mà đời tôi hơn bảy mươi năm sống trên cõi đời mới thấy lần đầu. Trước đó, những lần lên dự lễ làm tuần cho Sư, vì tin tưởng ở Ni chúng trong việc xây tháp nên tôi chẳng quan tâm gì mấy, do vậy không phát giác ra sự sai sót nầy.

Sau đó, ngoài tư cách là một phật tử bình thường, tôi còn là tư cách anh ruột của Sư, nghĩ rằng: việc xây mộ phần của Sư có liên quan đến vấn đề huyết thống dòng họ của tôi, nên tôi tìm gặp thầy Đạt Minh là người nghe mấy cô trong chùa cho biết được sư Trí giao trách nhiệm giám sát việc xây tháp để hỏi. Gặp thầy, tôi hỏi việc xây tháp mà hướng khác với hướng huyệt mộ là thế nào. Thầy trả lời quấy quá sao đó mà tôi không nhớ rõ nhưng không được thoả đáng. Thế rồi cũng qua, nhưng tôi vẫn mang tâm trạng không yên, bởi nghĩ rằng việc xây mộ tháp là vấn đề quan trọng trong thế gian kể cả trong đạo, tại sao ở đây có thể làm một cách cẩu thả như vậy đươc.

Sáng ngày 8.3.Tân Mảo, tôi gặp bác Nam, người thợ nề già dặn kinh nghiệm trong việc xây dựng, là người xây chùa Diệu Giác năm 1996; người phác thảo huyệt mộ của Sư trong ngày đầu diễn ra tang lễ với sự có mặt của tôi và là chú của thợ Phú người đang phụ trách xây tháp. Gặp bác, tôi trình bày đầu đuôi câu chuyện để xin bác cho ý kiến. Nghe xong, bác trả lời: “Xây như vậy là không được, sai rồi”. Lúc đó anh thợ Phú đi ngang qua, tôi mời đứng lại để hỏi. Bác Nam nhanh miệng hỏi trước khi tôi mở miệng. Bác hỏi thợ Phú “Tại sao lại xây như vậy?” .Thợ Phú trả lời: “ Thầy dạy sao con xây vậy”. Anh ta vừa trả lời vừa bỏ đi ngay. Và sau đó chúng tôi – bác Nam và tôi – cũng đứng tại chỗ thì thầy Đạt Minh đi qua. Tôi vội mời Thầy dừng lại để cùng bác Nam hỏi một lần nữa xem thầy trả lời ra sao. Thầy nói: “ thầy chỉ lo về kỷ thuật” rồi bỏ đi. Hai chúng tôi đứng ngơ ngẩn người mà chẳng biết nói gì. Cuối cùng bác Nam nói mấy lời an ủi tôi rồi chia tay.

Chiều ngày 8.3.Tân Mão tôi gặp sư Trí, tôi cũng trình bày sự việc và mời Sư ra xem thực tế tháp mộ. Sau khi trao đổi, Sư Trí nói rằng việc nầy đã được Hoà Thượng Thiện Tấn đồng ý và Sư dẫn tôi lên gặp Hoà Thượng. Tôi nói rằng: “ Nếu như sự thật mà Hoà Thượng đồng ý như cô nói thì cũng sai, không thể chấp nhận được”. Tôi và Sư  Trí lên phòng gặp Hoà Thượng và được Hoà Thương xác nhận rằng: “ Việc làm tháp thì tôi chưa có ý kiến gì nhưng về huyệt mộ thì bữa vào lo lễ tang tôi có ra xem và thấy huyệt mộ nằm xiên không thẳng với hướng chùa, tôi hỏi tại sao thì nghe quý Cô nói là do thầy địa lý coi hướng. Nghe vậy, tôi nói thế thì đươc”. Trao đổi chừng đó thì tôi và Hoà Thượng ra xem tháp. Nghe tôi trình bày quan điểm và thấy thực tế như vậy, Hoà Thượng tỏ ý không hài lòng và nói rằng thế nầy là không được, phải sửa lại thôi. Tôi cũng đồng ý như thế, nghĩa là sẽ đập hai tầng trên rồi xây lại cho đúng hướng vì cũng đơn giản thôi vì mới chỉ xây mấy cái trụ và bệ đỡ. Thế rồi chúng tôi chia tay. Một hồi lâu sau, Hoà Thượng gọi điện thoại cho tôi nói: “ Việc nầy bác yên tâm, phải họp chúng, tối nay sẽ họp vì ngày mai em về rồi, em đã nói với cô Hạnh Ngọc rồi và cô cũng đồng ý” – Hoà Thượng là em trong thân tộc tôi nên xưng em với tôi như vậy.

Từ đó tôi chờ đợi cuộc họp sẽ được triệu tâp tối nay tuy không rõ là mấy giờ. Nhưng cũng chẳng sao vì tôi ngồi chờ trước hành lang chùa nên không khó để thấy quý cô tập trung.

Khoảng 5 giờ chiều khi tôi đang ngồi dùng bữa ngoài sân thì cô Hạnh Châu ra ngồi chơi. Tôi và Cô trao đổi sơ qua về việc xây tháp và tôi trình bày việc bức xúc của tôi để Cô rõ là tại sao một việc hệ trọng như thế mà những người có trách nhiệm lại trốn tránh trách nhiệm và khi tôi hỏi đến lại trả lời một cách quấy quá như vậy. Tôi thật sự rất bức xúc. Cô nói: “thôi chuyện gì tối họp rồi nói, cậu yên tâm đi”.

Nhưng từ đó cho đến 6 rồi 7, rồi 8 đến hơn 9 giờ tối vẫn không có một bóng người. Trước đó, vào khoảng hơn 8 giờ, Hoà Thượng có gọi cho tôi hỏi: “Bác thấy quý cô tập trung nơi linh đường chưa, nếu chưa, bác nhắc họ vô họp cho rồi”. Tôi liền đi tìm gặp các cô. Gặp cô Hạnh Thuận tôi hỏi sao chưa họp cô? Cô trả lời: “họp hành gì cậu, cô Trí đi Sài Gòn rồi”. Tôi ra sân gặp cô Hạnh Nghiêm truyền đạt lời của Hoà Thượng. Cô nghe xong đi với tôi ra tháp đê xác định hướng của tháp và huyệt mộ chênh nhau ra sao trước khi vào họp. Nhưng sau đó tôi vào linh đường rồi còn cô biến mất. Cuối cùng tôi lên gặp Hoà Thượng trình bày tình hình cho Hoà Thượng rõ rồi chúng tôi cùng xuống linh đường. Hoà Thượng bảo tôi đứng đợi ở linh đường rồi đi đâu đó. Vào linh đường đợi một hồi lâu thì Hoà Thượng trở lại và đến vái trước di ảnh Sư rồi nói với tôi thế nầy: “Em đã gặp sư Trí và sư Trí có hứa và nhờ em nói lại với anh là sư Trí sẽ sửa lại tháp như ý anh trình bày, cô ấy không thể xây tháp để ảnh hưởng đến dòng họ mình được, bác yên tâm về nghỉ đi”. Khi Hoà Thượng đang nói chuyện với tôi thì có cô Hạnh Ngọc, Tịnh Đức, Hạnh Tánh và vài cô mà tôi không biết tên lục tục đến linh đường. Thì ra, vì đợi chờ quá lâu – từ 7 đến 9 giờ -  Hoà Thượng chờ không được nên đã phải hạ cố đích thân đến phòng của sư Trí để “thỉnh thị” ý kiến thay vì họp!!! (Thôi thì đất không nghe trời thì trời phải nghe đất chứ biết làm sao!). Nghe Hoà Thượng nói vậy, tôi vui vẻ quay qua các cô có mặt nói mấy lời trước khi ra về đại ý thế nầy: “ Các cô sao lại tệ thế, vô lễ với một vị Hoà Thượng. Một vị Hoà Thượng mời các cô họp mà các cô không thèm đến, cuối cùng Hoà Thượng phải hạ cố đi đến phòng của sư Trí để trình bày sự việc thì còn thề thống gì là một Hoà Thượng. Tôi nghe các cô thường nói là y chỉ Tăng để tu hành mà các cô nỡ đối xử như vậy, thật là hết nói? Hoà Thượng mời họp mà từ 7 giờ đến 9 giờ tối các cô không thèm đến. Tôi nghĩ chắc cũng như thế, khi Ni Trưởng bị trúng gió chết là phải thôi, vì có  ai chịu chạy đến cứu kịp thời mà bảo không chết?”.

Nói xong tôi ra về. Trên đường về nhà, tôi miên man với những suy nghĩ về thế thái nhân tình, rất thất vọng và buồn bã khi nghĩ đến thái độ và việc làm của ni chúng chùa Diệu Giác. Không ngờ sau mấy mươi năm nương bóng Sư tu hành giờ đây các cô đã để lộ bộ mặt thật của họ ra như vậy.

Về nhà, càng suy nghĩ càng buồn nên sáng hôm sau mới ngủ dậy tôi gọi điện thoại cho cô Hạnh Châu và trình bày những gì tôi nói đêm qua với các cô tại linh đường. Tôi còn nói thêm: “Ngoài việc đối xử với Hoà Thượng như vậy, còn đối với tôi, dù ngu dốt đui què mẻ sứt gì đi nữa cũng là anh ruột của Sư, quyền huynh thế phụ, với phép lịch sự tối thiểu các cô cũng nên tỏ ra thế nào để che mắt thế gian chứ. Thế thì các cô kính Sư, thương Sư , báo ân sư ở đâu. Các cô là đoàn thể tu hành mà hành xử với một vị Hoà Thượng trong tông môn pháp phái vừa là thân quyến của Sư cũng như đối với tôi như thế có phải là vô lễ và vô giáo dục không? Tại sao các cô không ngồi lại để cho Hoà Thượng và tôi thưa một chuyện hệ trọng liên quan đến việc xây tháp cho Sư  mà bắt tôi – một người già trên 70 tuổi bịnh hoạn,  mệt mỏi sau hai ngày dự lễ – ngồi chờ từ 5, 6 giờ chiều cho đến hơn 9 giờ tối để họp nhưng cuối cùng ra về với nỗi thất vọng ê chề vì không ai thèm đến họp. Cuối cùng tôi nói thêm rằng từ nay tôi sẽ không bao giờ đến chùa Diệu Giác nữa.

Mấy ngày sau tôi nhận điện thư của cô Hạnh Châu. Cô an ủi tôi và nói việc gì cũng cần thời gian rồi giải quyết, cậu cứ yên tâm. Trả lời thư Cô, tôi trình bày về việc xây dựng mộ, đặt bia, xây tháp mà chắc ở quê cô, cô cũng không lạ gì. Không ai có thể chấp nhận hướng huyệt mộ một đường mà đặt mặt bia hay hướng tháp một nẻo cả. Tôi cũng nhắc lại những gì tôi đã nói với cô về Ni chúng Diệu Giác. Trước đó Cô Hạnh Bảo cũng có gọi cho tôi nhưng tôi không nói chuyện được.

Trong thời gian nầy tôi có gọi điện thoại nói chuyện với Hoà Thượng Thiện Tấn và thầy Hải Tạng để thưa với quý vị rằng Hoà Thương Thiện Tấn, Hoà Thượng Trí Tựu, Thượng Toạ Hãi Tạng nên có trách nhiệm liên đới trong việc xây tháp mộ cho Sư, không thể để một mình sư Trí muốn làm sao cũng được.

Thầy Hãi Tạng cho tôi biết đã tư vấn cho Ni chúng Diệu Giác là nên thỉnh thị ý kiến của quý Thầy chùa Già Lam và Vạn Phước để làm.

Thì ra là vậy. Hoà Thượng Thiện Tấn không phải là Tăng nên những gì sư Trí hứa với Hoà Thượng đều vô giá trị. Không biết cuộc họp sắp đến với các thầy chùa Già Lam, Vạn Phước, Ni chúng có mời Hoà Thượng Thiện Tấn không. Riêng với Thầy Hãi Tạng thì thầy cho tôi biết là có mời nhưng thầy không vào được.

Thế rồi tối ngày 18.04.2011 tức 16.03.Tân Mảo, cô Hạnh Phước rồi đến cô Hạnh Châu lần lượt gọi điện thoại cho tôi mời lên dự buổi họp vào lúc 5 giờ chiều ngày 19.04.2011 tức là 17.03.Tân Mảo, gần hai tháng đúng ngày Ni Trưởng mất.

Dự  họp có:

Hoà Thượng Đức Chơn chùa Già Lam,

Hoà Thượng Thiện Tánh, đại diện Thành Hội và Quận 2

“               Phước Thông chùa Vạn Phước

Thượng Toạ Nguyên Giác chùa Già Lam

“           Đạt Đức chùa Hãi Quang

“           Quảng Thiện chùa Từ Tân (cháu gọi tôi bằng bác)

Ni Sư              Huệ Âm

“           Diệu Đạo (không biết tôi nhớ tên có đúng không)

Ni chúng chùa Diệu Giác

Và tôi Thái Tăng Phôi, đại diện hiếu quyến.

Sau một giờ trao đổi, cuối cùng đi đến kết luận đại ý: quý ngài phân tách và khuyên tôi nên hoan hỹ để việc xây tháp tiếp tục, chứ không nên đập đi xây lại sẽ ảnh hưởng không tốt cho chùa và tiếng tăm của Sư, nhất làvề mặt chính quyền họ đã làm lơ cho mình đặt huyệt mộ trong khuôn viên chùa rồi mà bây giờ nghe tiếng nầy nọ cũng không ổn.

Trước tấm lòng của quý Ngài tôi thưa lại và khẳng định một lần nữa đại ý là: “chư tôn đức quyết định sao thì con không dám phản đối nhưng quan điểm của con là xây tháp mộ như vậy là không đúng, chưa nói đến vấn đề phong thuỷ và ảnh hưởng đến dòng họ của con. Con biết việc xây tháp mà xây kiểu lộn xộn như thế nầy Sư sẽ không vui mặc dù xây là để truy tán công đức và đạo hạnh của Sư chứ không phải xây tháp cho chúng ta làm đẹp cảnh chùa”.

Cuộc họp bế mạc khi ánh nắng chiều còn le lói ở phía trời tây.

2.- NHẬN ĐỊNH

(Thay cho những trình bày của tôi về những phát biểu của quý Thầy trong cuộc họp nói trên mà vì thời gian eo hẹp nên không trình bày được đầy đủ và những ý kiến khác trước đó của một số người).

- Việc xây tháp mộ cho Sư là chuyện không có gì bàn cãi nếu có sự họp hành bàn bạc giữa Ni chúng và các bậc tôn túc đại diện trong tông môn pháp phái và hiếu quyến để có một quyết định chung. Đằng nầy theo tôi nghĩ, nội bộ Ni chúng chùa Diệu Giác tự quyết định mọi vấn đề và chẳng biết có tham khảo ý kiến ai thì tôi không rõ. Do đó khi xây tháp đã xẩy ra những sai sót đáng tiếc như vừa nêu – hướng huyệt mộ một đằng, hướng mặt tháp một nẻo. Đây là điều tôi chưa từng thấy có trên đời và cũng là vấn đề mấu chốt gây trỡ ngại khi hiếu quyến khám phá ra và đề nghị phải cho sửa lại. Vì sao tôi đặt vấn đề phải có hiếu quyến? Bởi chúng ta còn sống trong cuộc đời nầy và lệ thuộc rất nhiều vào các pháp thế gian. Tôi nghĩ Sư không phải là người đã giải thoát hoàn toàn các ràng buộc ấy mặc dù trên thực tế là đã “cát ái từ sở thân”. Do đó việc xây mộ phần phải có ý kiến đóng góp của hiếu quyến.

Tôi dẫn một ví dụ. Đời ông cố của tôi vì không có con trai nên di táng mộ ông cao đến một địa điểm khác. Sau khi cãi táng, thầy địa lý phán rằng: sau nầy nhà ông sẽ có con trai và phát làm thầy tu vì hai quả núi hai bên trái phải là chuông mõ. Quả thực, sau đó ông cố tôi sinh hai người con trai và đến thế hệ tôi đã có người đi tu và bây giờ là thế hệ kế tiếp trên hai mươi vị.

Ví du thứ hai. Nếu ai có nghe về nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng chắc còn nhớ câu chuyện ngôi mộ của một vị Thiền Sư chôn cách đây 700 năm và nay bị người ta làm nhà lên trên mộ vì mộ bị vùi lấp quá lâu đời nên không biết. Khi làm nhà xong về ở, con cháu trong nhà bị đau liên tục. Sau khi chạychữa khắp các bệnh viện vẫn không khỏi bệnh mới tìm đến nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng. Nhờ khám phá, khai quật mộ phần và di dời đi nơi khác mà gia đình ấy mới yên. Và cũng nhờ vậy mới biết đây là ngôi mộ của một vị Thiền Sư thuộc thời nhà Trần cách đây 700 năm.

Sở dĩ tôi nêu ra hai thí dụ trên để chứng minh rằng, đối với thế gian khi chưa thoát ra khỏi sự chấp trước thì vấn đề mồ mã chúng ta không thể xem thường. Vã lại đừng nghĩ rằng cứ vào chùa là thoát hết mọi ràng buộc của thế gian. Cái miệng bô bô “thân cát bụi trở về cát bụi” và tự cho mình như người chứng đạo, rồi bất chấp làm việc bậy bạ. Có người cho rằng giả dụ như thiêu xác thì sao? Đồng ý khi đã thiêu thì tâm người ta kể cả người sống kẻ chết không còn chấp thân nữa, có chấp cũng ít thôi. Trái lại khi đã chôn xác, xây mộ, xây tháp, mời thầy địa lý xem hướng huyệt mộ là đã một trời chấp trước trói buộc về thân rồi. Do đó khi xây tháp mộ không thể cẩu thả làm bừa như trường hợp của Ni chúng chùa Diệu Giác được.

- Về phong thuỷ, trong xây dựng chùa chiền hoặc tháp mộ ở chùa có áp dụng không? Tôi khẳng định là có. Tôi nhớ không lầm khi Hoà Thượng Hư Vân ở bên Trung Hoa là bậc cao tăng chứng đạo mà khi về trùng tu một ngôi chùa gì của Lục Tổ mà tôi quên tên cũng phải đắp núi đào sông để tạo cảnh quan phong thuỷ cho hợp lý mới xây dựng. Gần nhất là khi trùng tu chùa Diệu Giác năm 1996, Sư cho tôi biết là theo thầy địa lý cho biết thì hướng chùa so với tuổi của Sư là đại xấu – hướng tuyệt mạng – nếu người thiếu đức độ sẽ khó ở lâu dài. Do đó để hoá giải vấn đề nầy, ngoài việc tinh tấn tu hành của Sư, thầy địa lý đã khuyên Sư nên có biện pháp xây hướng bếp theo hướng tốt để hoá giải hướng xấu của chùa.

Từ hai dẫn chứng trên, tôi cho rằng khi Sư nằm xuống, Ni chúng mời thầy địa lý về xem huyệt mộ cho Sư là không có gì để bàn cãi. Và thầy địa lý đã đặt hướng huyệt mộ theo hướng tây nam – đông bắc mà không theo hướng thẳng với chùa là hướng tây – đông là đúng. Khi đặt hướng huyệt mộ như thế thầy địa lý đã tránh cái hướng xấu cho Sư và chúng ta phải tự biết là khi dựng bia hay xây tháp cũng phải theo hướng đúng đó. Tại sao sư Trí lại tự  quyền thay đổi hướng khi xây tháp? Việc xây tháp cho Sư không chỉ có yếu tố ngay thẳng với chùa không thôi mà cho là đẹp được. Trái lại nó phải bao gồm nhiều yếu tố khác kết hợp lại mới có được nét đẹp toàn diện của một công trình kiến trúc. Đâu phải cái gì thẳng hàng cũng đẹp cả. Hướng của tháp hiện tại là hướng tuyệt mạng là rất xấu. Không những thế, hướng nầy bị tháp chuông án ngữ che khuất nên không thể cho là tốt, là đẹp được. Trường hợp muốn xây tháp cho đẹp, không cần phương hướng tốt xấu thì mời thầy địa lý mà làm gì?

- Việc xây hướng tháp không trùng khớp với hướng huyệt mộ là việc làm ẩu tả, coi thường tất cả và vô trách nhiệm do thiếu hiểu biết của sư Trí. Một việc làm mà bản thân tôi sống trên bảy mươi năm trong cuộc đời mới thấy lần đầu. Sư Trí biện bạch cho việc làm sai trái nầy bằng việc nêu ra câu chuyện ngày xưa vua xây hai mộ, một mộ thật, một mộ giả thì sao để so sánh. Việc so sánh và biện bạch nầy không bao giờ ăn khớp với nhau được. Khi làm mộ giả người ta làm nấm mộ, dựng bia hay xây tháp cũng đồng hướng với huyệt một, không có chuyện mỗi cái một đường trên một ngôi mộ. Còn mộ thật thì người ta lại làm có thể đơn sơ hơn để đánh lừa kẻ gian.

- Có người nói rằng, Sư là người của đạo rồi, thôi để cho đạo họ lo, mình dính dấp vào làm gì hoặc cậu Phôi có quyền gì mà điều động chúng họp. Tôi không ngu gì về mấy cái việc sơ đẳng nầy. Cuộc họp như nói ở trên là do Hoà Thượng Thiện Tấn yêu cầu với Ni chúng. Như tôi đã trình bày ở trên, vì có liên quan huyết thống với Sư và việc xây mộ tháp là điều quan trọng nên khi thấy sai tôi mới dám đóng góp ý kiến để sửa lại cho đúng. Trái lại những việc khác của chùa tôi biết phận của tôi, tôi không bao giờ vượt quá phạm vi một phật tử tại gia của mình. Ngay khi Sư còn sống tôi biết được nhiều việc Sư bức xúc nhưng tôi không bao giờ xía vô việc chùa. Nhưng giả dụ là một Phật Tử bình thường khi thấy việc sai trái của chùa không có quyền đóng góp ý kiến để xây dựng sao? Như vậy, khi  là người của đạo rồi muốn làm sai trái thế nào cũng được chắc?

- Việc sửa lại tháp chỉ cần đập hai tầng trên. Hai tầng nầy mới chỉ đúc cột trụ và mấy cái bệ lá sen nên đập không khó và không tốn kém là bao. Tôi cũng được nghe sau nầy sẽ tôn trí tôn tượng Phật và di ảnh của Sư nơi hai tầng nầy. Hai tầng nầy mới là nơi hiện rõ là mặt và là hướng của tháp, còn tầng trệt không rõ rệt lắm.

3.- KẾT LUẬN

Việc xây tháp mộ cho Sư là nhằm truy tán công đức và đạo hạnh của Sư, đây là việc làm đúng đắn. Tuy nhiên việc xây dựng đã diễn ra không bình thường như đã nêu ở trên. Đó là điều đáng tiếc.

Thật vậy, một công trình kiến trúc quan trọng mà do một người đàn bà thiếu hiểu biết cả về kỹ thuật lẫn mỹ thuật, làm việc theo cảm tính đảm trách thì thử hỏi công trình ấy không sai trật là chuyện lạ.

Thiết nghĩ, các vị chức sắc trong tông môn pháp phái phải liên đới chịu trách nhiệm trong vấn đề nầy.

Chưa nói đến chuyện phong thuỷ, xây tháp gì cao siêu, giả dụ chỉ dựng bia thôi thì dựng bia vào cái hướng mặt tháp như hiện tại có được không? Tôi khẳng định một điều dứt khoát là không ai chấp nhận như vậy. Bia phải được dựng đúng hướng huyệt mộ, nghĩa là dưới chân hoặc trên đầu của huyệt mộ, không thể dựng bia chênh một bên mộ được.

Sinh thời Sư sống rất nghiêm chỉnh, trật tự, nề nếp đâu ra đấy. Sống mấy mươi năm với Sư hẳn nhiên các cô đã biết, nhất là với sư Trí. Vậy tại sao xây mộ tháp cho Sư , lại xây cái nầy một đường, cái khác một ngã mà các cô có thể cam tâm làm được? Tôi nghĩ Sư chẳng thể nào vui được khi nằm dưới mộ tháp. Đừng vì một lý do gì, kể cả để cho đẹp theo con mắt phàm tình của mình mà thay đổi một điều gì đó có tầm ảnh hưởng quan trọng đến một điều khác mà mình chưa hiểu biết đến.

Trong cuộc họp ngày 18.03.Tân Mão (20.04.2011) dù quý Thầy có giải thích thế nào thì cũng không qua khỏi một sự thật như vừa nói ở trên trong việc xây mộ tháp theo tập tục xưa nay. Do đó, việc tiếp tục xây như cũ là do các lý do khách quan, có thể sợ có dư luận và ảnh hưởng xấu từ bên ngoài như đã nói ở trên  chứ không phải việc sư Trí làm là đúng. Sự việc nầy sẽ gây những điều không tốt cho chùa sau nầy và ảnh hưởng xấu cho gia đình tôi. Tôi quả quyết như vậy và việc nầy không phải ngày một ngày hai mà sẽ còn lâu dài.

Tôi được biết sư Trí là người bất chấp tất cả, tự làm theo ý mình, chẳng biết đúng sai, không cần ý kiến đóng góp của ai, làm không vừa ý là đập phá làm lại, tiền của đàn na tín thí mà. Theo dư luận trong chùa lâu nay bàn tán như vậy.

Nằm dưới tháp mộ chắc Sư không vui vẻ gì và tiếp tục cam chịu sự tác oai tác quái củasư Trí như đã từng chịu đựng suốt mấy chục năm qua lúc còn sinh thời mà thôi. Tôi nghĩ rằng do oan gia nghiệp báo của gia đình tôi và vì nghiệp xấu của Sư còn dày, đức mỏng và phước cạn nên đành phải chịu vậy. Chết vẫn không yên. Sống có nhà, chết có mồ. Mồ yên mả đẹp mới là phúc. Ở đây mồ xây như vậy, mỗi cái một đường làm sao gọi là yên là đẹp là phúc cho được?

Tôi là anh ruột của Sư cũng bất lực đứng nhìn người ta muốn làm gì thì làm trên xác chết của em mình mà đành chịu thôi. Một mình, thân cô thế cô giữa ba quân thiên hạ, làm gì được ai. Con cháu cũng sợ không dám nói một lời nào phụ cho tôi trong việc đúng đắn nầy. Thật thảm hại.

Xin hãy đừng lợi dụng xác chết của Sư để làm hao tổn tiền bạc của đàn na tín thị. Sư sẽ không vui đâu.

Ma vương đã thắng!

Ôi! Buồn thay!

Kim Long, những ngày rất buồn, 20, 21, 22/04/2011

(18, 19, 20/03/Tân Mão)  đúng hai tháng ngày Sư mất

Tâm Thường Thái Tăng Phôi

( Dieu Giac )